- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thái Hồng N - anh Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? hành xét xử vắng mặt anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST Ngày 25-5-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Lệ Hoa
2. Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án
nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia
phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2019/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Hồng N (có mặt)
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, Thới Bình, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2019 và trong quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn chị Thái Hồng N trình bày:
Chị và anh T kết hôn vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
xã T. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi vả, ảnh hưởng đến con cái. Năm 2019 do bất đồng ý kiến trong chuyện làm ăn và việc chị có một người bạn nữ nhưng anh T cấm đoán không cho giao tiếp với người này, vợ chồng xảy ra cự cãi, đánh nhau nhiều lần dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không T. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị và anh T có hai con chung là các cháu Ngô Bảo T, sinh ngày 16/3/2003 và Ngô Nhã T - sinh ngày 07/11/2008, hiện do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Ngô Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị N tổ chức đám cưới cách đây 19 năm, có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình. Thời gian chung sống cách đây vài tháng, vợ chồng làm ăn thua lỗ, nên cải nhau, xảy ra ẩu đả nhiều lần nhưng không nghiêm trọng, gia đình cha mẹ hai bên có hòa giải hàn gắn, khuyên răn vợ chồng nhưng không có kết quả. Ngoài ra, còn có mâu thuẫn khác nữa là do anh không thích và có cấm đoán chị N không cho chị giao lưu, qua lại với một người bạn nữ mà có biểu hiện đồng tính, khiến cho mâu thuẫn anh và chị N ngày càng trầm trọng. Thời gian gần đây do làm ăn thất bại nên anh cũng không lo được đời sống cho vợ con. Anh vẫn còn tình cảm với chị N nên không đồng ý ly hôn với chị N. Về con chung: Có 2 con chung là các cháu Ngô Bảo T, sinh ngày 16/3/2003 và Ngô Nhã T, sinh ngày 07/11/2008, hiện các con chung sống với gia đình. Nếu trường hợp phải ly hôn, tùy vào nguyện vọng các con chung muốn sống cùng với ai thì cho con theo người đó. Tài sản chung: Do không chấp nhận ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình
phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật; về nội dung vụ án: Các yêu cầu của chị N về hôn nhân, về nuôi dưỡng con chung là có cơ sở, về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chị N yêu cầu ly hôn với anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm
lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự này.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký
kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do không thông cảm, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, nhiều lần xô xác nhau, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không T, hiện tại anh chị đã bỏ mặc lẫn nhau. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét về tình trạng hôn nhân và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T.
Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của chị N thấy rằng, các cháu Bảo T,
Nhã T đang chung sống ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với chị N, anh T có ý kiến là việc con sống với ai là tùy vào nguyện vọng của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N, giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem
xét. Nếu có yêu cầu thì giải quyết tại vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu số tiền là 300.000
đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị N đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt anh Ngô Văn T.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân
và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Về hôn nhân: Chị Thái Hồng N và anh Ngô Văn T được ly hôn.
[2] Về con chung: Giao cháu Ngô Bảo T, sinh ngày 16/3/2003, Ngô Nhã T,
sinh ngày 07/11/2008 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu số tiền 300.000
đồng (ba trăm ngàn đồng). Ngày 06/12/2019 chị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010784 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án, anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - UBND xã T; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |