- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Nguyễn Thị G và anh Huỳnh Hồng T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2020. V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Son;
2. Ông Đinh Khắc Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Du – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số nhà 17, Tổ 25 ấp TH, xã T, thị xã H, tỉnh T, (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số nhà 17, Tổ 25 ấp TH, xã T, thị xã H, tỉnh T, (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Chị và anh Huỳnh Hồng T chung sống với nhau vào năm 1993, do tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh chị sống chung hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh T thay đổi, không chăm lo cho cuộc sống của chị và con. Anh chị thường xuyên gây gỗ, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chị và anh đã không còn sống chung nay đã 02 năm. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Anh chị có hai người con chung là Huỳnh Tấn K, sinh năm 1996 và Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 2003, Cháu K đã trưởng thành nên chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết, riêng đối với cháu L chị G yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Hồng T: Được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại các phiên họp hòa giải cũng như tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị G và anh T là vợ chồng. Về con chung giao cháu Huỳnh Thị Mỹ L, sinh 2003 cho chị cho chị G nuôi dưỡng, ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Chị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Anh Huỳnh Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Nguyễn Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Huỳnh Hồng T chung sống với nhau vào năm 1993, không đăng ký kết hôn. Anh chị sống chung đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và đã không sống chung từ đó cho đến nay. Nay chị G yêu cầu ly hôn, anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, tuy nhiên do chị G, anh T sống chung nhưng không có đăng ký kết hôn nên việc chị G, anh T sống chung là vi phạm quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình do đó giữa chị G, anh T không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cần căn cứ vào Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận chị G, anh T là vợ chồng.
Về con chung: chị G, anh T có hai người con chung là Huỳnh Tấn K, sinh năm 1996 và cháu Huỳnh Thị Mỹ L sinh năm 2003. Cháu K đã thành niên, tự lao động sinh sống được, chị G không yêu cầu giải quyết, còn đối với cháu L chị G yêu cầu được nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với chị G. Do đó cần giao cháu L cho chị G chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Hồng T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết vấn đề này.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 14, 15, 53, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
1. Không công nhận chị Nguyễn Thị G và anh Huỳnh Hồng T là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 2003. Ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Cháu Huỳnh Tấn K, sinh năm 1996 đã thành niên chị G không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Anh Huỳnh Hồng T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0008671 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, chị G đã nộp xong án phí.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |