vanban.org

Bản án 44/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tuyên bố: Chị Lương Thị B ly hôn anh Dương Văn T. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị B được quyền trực tiếp nuôi các con chung: Dương Thị D1, sinh ngày 26/3/2005; Dương Thị Hồng D2, sinh ngày 01/10/2008 và Dương Văn T1, sinh ngày 28/6/2013. Anh Dương Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị B và Dương Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Sơn

2. Ông Lê Hoàng Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2020/TLST-HNGĐ, ngày 3 tháng 4 năm 2020, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2020, Quyết định hõa phiên tòa số 40/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/7/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị B, sinh năm 1984. Có mặt.

Nơi cư trú: Số nhà 14/3 đường số 44, thôn A, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số nhà 14/3 đường số 44, thôn A, xã NC, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2020, bản tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa nguyên đơn Lương Thị B trình bày:

Vào năm 2004 chị Lương Thị B và anh Dương Văn T, qua tìm hiểu yêu thương nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NC, huyện Đ. Quá trình chung sống anh T không chịu lo làm ăn để nuôi con. Thực hiện hành vi trộm cắp phải đi cải tạo. Sau khi cải tạo về lại đi bồ bịch, cờ bạc. Khi vợ chồng xích mích anh T đánh chị B. Nay chị B xác định không còn tình cảm yêu thương với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Chị B và anh T hiện có 03 con chung là: Dương Thị D1, sinh ngày 26/3/2005; Dương Thị Hồng D2, sinh ngày 01/10/2008 và Dương Văn T1, sinh ngày 28/6/2013. Chị B yêu cầu được nuôi cả 03 con và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi 01 con một tháng là 1.000.000 đồng.

Tòa án đã nhiều lần tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải, nhưng bị đơn Dương Văn T không đến tham gia.

Qua kết quả xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án xác định được vợ chồng chị B và anh T thực sự có phát sinh mâu thuẫn, anh T từng bị kết án. Chị B làm công nhân chế biến hạt điều và chấp hành tốt quy định của pháp luật, anh T thì đi bán kem ở Thành phố Hồ Chí Minh. Qua lấy lời khai các con của anh T, chị B thì các cháu đều có nguyện vọng sống cùng mẹ, vì anh T không quan tâm đến các cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận việc ly hôn của chị B. Về con nên giao cho chị B nuôi cả 03 con là phù hợp, vì anh T không có điều kiện nuôi con. Buộc anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:

Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1, Điều 35 và Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Anh Dương Văn T là bị đơn, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị B và anh T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Qua trình bày của chị B và kết quả xác minh cho thấy trong cuộc sống hôn nhân giữa chị B và anh T phát sinh mâu thuẩn. Nguyên do là vì anh T không lo làm ăn có hành vi phạm tội, ngoài ra còn tham gia đánh bạc; không quan tâm chăm sóc con cái và gia đình, đánh đập vợ con. Từ đó chị B không còn tình cảm với anh T và đề nghị được ly hôn. Trong năm 2019 chị Lài đã gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án, để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ cùng xây dựng gia đình hạnh phúc, nên chị Lài đã rút đơn khởi kiện. Mặt khác, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải, nhưng anh T không đến tham gia, không chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B, là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị B và anh T có 03 con chung, các con hiện tại đều sinh sống với chị B, còn anh T không quan tâm đến con cái, thường đi khỏi nhà. Chị B có nguyện vọng được nuôi cả 03 con sau khi ly hôn. Xét thấy các cháu đều còn nhỏ và đều có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nếu giao cả 03 cháu cho chị B nuôi dưỡng thì chị B sẽ gặp khó khăn; nhưng do anh T lại không quan tâm con cái, thường bỏ nhà đi, hơn nữa là đàn ông nên việc chăm con không tốt. Hiện chị B có sức khỏe, có công việc, thu nhập ổn định. Đồng thời hiện tại cháu D1 cũng đã lớn, góp phần cùng mẹ chăm sóc được các em, nên giao cả 03 con cho chị B nuôi dưỡng là phù hợp, tạo điều kiện cho các cháu được ở gần nhau, khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình, cần giao cả 03 cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp và đảm bảo quyền lợi của các cháu.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng: Chị B yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 03 cháu mỗi tháng 3.000.000 đồng (01 cháu 01 tháng 1.000.000 đồng). Xét thấy yêu cầu của chị B là chính đáng; bản thân anh T có sức khỏe, nếu chịu khó lao động vẫn có thu nhập để cấp dưỡng cho con và góp phần giảm bớt khó khăn cho chị B khi nuôi con.Từ đó chấp nhận yêu cầu này của chị B là phù hợpkhoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về án phí: Chị B chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh T chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét trong Bản án này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Khoản 2 Điều 81, khoản 3, 4 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xử:

1. Tuyên bố: Chị Lương Thị B ly hôn anh Dương Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị B được quyền trực tiếp nuôi các con chung: Dương Thị D1, sinh ngày 26/3/2005; Dương Thị Hồng D2, sinh ngày 01/10/2008 và Dương Văn T1, sinh ngày 28/6/2013. Anh Dương Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

3.Về cấp dưỡng: Anh Dương Văn T có nghĩa vụ cấp dương cho các con: Dương Thị D1, Dương Thị Hồng D2, và Dương Văn T1, mỗi một tháng 1.000.000 đồng cho 01 con. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 8/2020 cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

Đối với phần quyết định về cấp dưỡng nuôi con, có hiệu lực thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.Kể từ ngày chị Lương Thị B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Dương Văn T chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

4. Về án phí: Chị Lương Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tiền số 0003533 ngày 03/4/2020. Chị B đã nộp đủ án phí. Anh Dương Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (29/7/2020), bị đơn có quyền kháng trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./-

Cỡ chữ