vanban.org

Bản án 44/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q .

Buộc ông Trịnh Quang Đ trả cho ông Nguyễn Văn Q số tiền hụi còn thiếu 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Văn Quân - Trịnh Quang Đoàn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/DS-ST
Ngày 17 - 6 - 2020
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Hải Dương

Ông Trần Thanh Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 17 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2020/TLST–DS ngày 21 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2020/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q , sinh năm 1960.

Cư trú tại: Ấp Xóm Tắc, xã T , huyện Đ , tỉnh C .(có mặt)

- Bị đơn: Ông Trịnh Quang Đ

Cư trú tại: Ấp Xóm Tắc, xã T , huyện Đ ,tỉnhC .(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 3 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Vào năm 2017 ông làm chủ hụi, ông Đ có tham gia chơi 01 chưng hụi, loại hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 25/02/2017 âl, mỗi tháng khui 1 lần, dây hụi gồm 31 chưng. Dây hụi hiện nay đã mãn.

Ông Đ tham gia chơi đến lần thứ 10 vào ngày 25/11/2017 âl ông Đ bỏ 1.510.000 đồng hốt được số tiền 57.700.000 đồng, đến ngày 06/12/2017 aal ông giao tiền cho ông Đ . Sau khi hốt hụi ông Đ có đóng hụi chết nhưng còn nợ lại 05 kỳ hụi chết và số tiện nộp hụi còn thiếu 1.000.000 đồng, tổng cộng ông Đ thiếu tiền hụi chết 16.000.000 đồng nhưng không trả cho đến nay.

Nay, ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xem xét giải quyết buộc ông Đ trả cho ông số tiền hụi chết còn nợ 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

Đối với bị đơn ông Trịnh Quang Đ : Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ theo quy định pháp luật, nhưng ông Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Vào ngày 05/6/2020 ông Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ .

Về quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết: Việc ông Nguyễn Văn Q khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Quang Đ trả cho ông số tiền hụi còn thiếu. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Q yêu cầu ông Đ trả cho ông số tiền hụi chết còn nợ 16.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo giấy giao tiền hụi ngày 06/12/2017 do ông Q cung cấp có nội dung “…hôm nay ngày 6 tháng 12 năm 2017 tôi tên Trịnh Quang Đ ở ấp Xóm tắc có nhận số tiền hụi của ông Q làm chủ hụi số tiền là 57.700.000đ Trịnh Quang Đ ”. Cũng như, tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định “...Trong trường hợp thành viên không góp phần họ, chủ họ đã góp các phần họ thay cho thành viên đó thì thành viên phải trả cho chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả...”. Viễn dẫn từ điều luật trên cho thấy ông Đ đã vi phạm nghĩa nộp hụi (họ).

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “…Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết…mà bên đượng sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh…”. Viễn dẫn từ điều luật trên, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ nhiều lần để tham gia giải quyết vụ án, nhưng ông Đ không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của ông Q nên ông Đ phải chịu thiệt hại về sự vắng mặt của mình.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q . Buộc ông Trịnh Quang Đ trả cho ông Q số tiền hụi còn thiếu 16.000.000 đồng mà ông Q đã nộp hụi thay cho ông Đ .

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “…bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận…”. Do đó, ông Đ phải chịu số tiền là 800.000 đồng. (16.000.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 92, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q .

1. Buộc ông Trịnh Quang Đ trả cho ông Nguyễn Văn Q số tiền hụi còn thiếu 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trịnh Quang Đ phải chịu 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng) ông Đ chưa nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ