- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Ông T yêu cầu ông L, bà T phải trả cho ông tiền hụi còn thiếu"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải trả cho ông Trần Văn T 99.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 22 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1/BA-DSST TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 44/2020/DS-ST Ngày: 24-9-2020 V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Cương
2. Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp “hợp đồng dân sự góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2020/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1952 (có mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
2. Bị đơn:
2.1. Ông Võ Thành L, sinh năm 1976 (vắng mặt)
2.2. Bà Nguyễn Thị Diễm Th, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
2/BA-DSST
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2020, biên bản lấy lời khai ngày 04/8/2020 nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Ngày 16/10/2014 âm lịch ông có tham gia góp dây hụi ngày, loại hụi 50.000 đồng do ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th làm chủ. Hụi có lãi và có hoa hồng (tiền cò mỗi phần 50.000 đồng), hụi có tổng cộng 130 phần, ông tham gia 20 phần, góp hụi sống được 110 ngày, còn lại 20 ngày ông lĩnh hụi chót. Tổng số tiền hụi ông được lĩnh là 110.000.000 đồng, nhưng trừ tiền còn 1.000.000 đồng nên còn lại 109.000.000 đồng (hiện dây hụi này đến nay đã mãn).
Sau đó ông có đòi nhiều lần nhưng ông L, bà Th cứ hẹn hết lần này đến lần khác nên năm 2015 ông có tự viết giấy nợ hụi ngày 16/02/2015 và ông L, bà Th có trực tiếp ký tên vào giấy nợ hụi này.
Sau khi làm giấy xong thì năm 2018 chỉ bà Th trả cho ông được 5.000.000 đồng, năm 2019 bà Th tiếp tục trả cho ông được 5.000.000 đồng nên còn nợ lại 99.000.000 đồng đến nay chưa trả.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải trả cho ông số tiền hụi còn thiếu là 99.000.000đ (Chín mươi chín triệu đồng), ngoài ra không yêu cầu gì khác.
* Đối với yêu cầu trên của nguyên đơn, tại biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2020 bà Nguyễn Thị Diễm Th là bị đơn có ý kiến:
Ngày 16/10/2014 âm lịch vợ chồng bà có mở dây hụi 50.000 đồng, loại hụi ngày, hụi có lãi và có hoa hồng (tiền cò 50.000 đồng), hụi có 130 phần, ông T tham gia 20 phần, góp hụi sống được 110 ngày, còn lại 20 ngày là của ông T lĩnh hụi cuối cùng. Tổng số tiền được lĩnh là 110.000.000 đồng, nhưng trừ tiền còn 1.000.000 đồng nên còn lại 109.000.000 đồng (hiện dây hụi này đến nay đã mãn).
Do hụi viên không góp hụi chết cho vợ chồng bà nên không có tiền giao cho ông T.
Sau khi hụi mãn được vài tháng thì vợ chồng bà có làm giấy nợ hụi với tổng số tiền 110.000.000 đồng và có hẹn thời gian trả cho ông T, đồng thời vợ chồng có ký tên vào giấy nợ hụi, còn chữ viết tên do ông T viết dùm.
3/BA-DSST
Sau khi làm giấy nợ chỉ bà trả cho ông T được 02 lần bằng 10.000.000 đồng (năm 2018 trả 5.000.000 đồng, năm 2019 trả 5.000.000 đồng) nên còn nợ lại 99.000.000 đồng.
Nay thừa nhận vợ chồng còn nợ và đồng ý trả cho ông T số tiền hụi còn thiếu là 99.000.000đ (Chín mươi chín triệu đồng), nhưng hẹn một năm trả 5.000.000 đồng đến khi nào đủ 99.000.000 đồng còn nợ.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn ông Trần Văn T vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.
- Bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn ông Trần Văn T trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T, buộc bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn thiếu.
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “Tranh chấp về hợp đồng dân sự góp hụi” của nguyên đơn ông Trần Văn T, nhưng bị đơn ông L, bà Th không có ý kiến gì và cũng không cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
4/BA-DSST
Do đó Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó, Tòa án tiến hành Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông L, bà Th, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn ông L, bà Th vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn...........đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”.
Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th, nhưng bị đơn ông L, bà Th vắng mặt không có lý do nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông L, bà Th, nhưng bị đơn ông L, bà Th vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông L, bà Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày thừa nhận của bị đơn (bút lục số 36), cũng như lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở để xác định được giữa nguyên đơn ông Trần Văn T với bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th có xác lập hợp đồng dân sự góp hụi với nhau. Cụ thể: Ông T đã tham gia dây hụi ngày do ông L, bà Th làm chủ, loại hụi ngày 50.000 đồng, hụi mở ngày 16/10/2014 âm lịch, dây hụi có 130 phần, ông T tham gia 20 phần và là người lĩnh hụi cuối cùng trong dây hụi. Tổng số tiền được lĩnh hụi là 110.000.000 đồng, nhưng trừ tiền hoa hồng 1.000.000 đồng và sau đó bà Th đã trả cho ông L 02 lần được 10.000.000 đồng nên còn nợ lại 99.000.000 đồng đến nay chưa trả.
Do đó, hiện nay bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải trả số tiền hụi còn thiếu đối với nguyên đơn ông Trần Văn T là 99.000.000đ (Chín mươi chín triệu đồng), vì đây là nghĩa vụ của chủ hụi đối với thành viên góp hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự và các điều 15, 22, 27, 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
5/BA-DSST
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị đơn ông L, bà Th phải chịu 4.950.000 đồng (99.000.000đ x 5%) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 15, 22, 27, 29 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Buộc ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải trả cho ông Trần Văn T 99.000.000đ (Chín mươi chín triệu đồng) tiền hụi còn thiếu.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của a ông Trần Văn T, nếu ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên cho ông T thì hàng tháng ông L, bà Th còn phải trả tiền lãi cho ông T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí:
- Bị đơn ông Võ Thành L, bà Nguyễn Thị Diễm Th phải chịu 4.950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn ông Trần Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Trần Văn T 2.475.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007852 ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2020); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
6/BA-DSST
dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh KG; - VKS huyện, tỉnh; - Các Đ/s; - Chi cục THADS huyện; - Lưu (HSVA, VPTA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Mỹ Linh |