vanban.org

Bản án 44/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/05/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần Ngọc Sơn-bà Vũ Thị Vui.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc Sơn và bà Vũ Buộc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội phải di dời một phần trạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần Ngọc Sơn-bà Vũ Thị Vui.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/DS-PT
Ngày: 11/5/2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Thành Dương

Bà Trương Thị Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Tú – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Đình Thắng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2020/TLPT-DS ngày 09 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2020/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu tập thể trường Cao đẳng A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

-Bị đơn: Bà L, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Ấp L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông L, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Ấp L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2/ Bà N, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khu tập thể trường Cao đẳng A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H, Bà L, Bà N có mặt; Ông L có đơn xin vắng mặt ghi ngày 11/5/2020)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm

Theo nội dung khởi kiện, các bản tự khai và biên bản hòa giải, tại phiên tòa ông Nguyễn Huy H khai;

Ngày 19/07/2017 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của bà L và ông L 2000m2 đất thuộc thửa đất số X, tờ bản đồ số Y xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hai bên có lập hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có công chứng với giá là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng). Vợ chồng ông đã thanh toán 500.000.000đ( Năm trăm triệu đồng) vào đợt 1, số tiền 300.000.000đ( Ba trăm triệu đồng) còn lại sẽ thanh toán vào cuối năm.

Tuy nhiên khi vợ chồng ông lo đủ số tiền trên thì Bà L không đồng ý bán nữa nên ông khởi kiện ra Tòa đề nghị Bà L, Ông L phải tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/07/2017 như đã giao kết, thực hiện các thủ tục tách thửa đối với phần diện tích đất 2000 m2 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà. Nếu Bà L hủy hợp đồng thì phải bồi thường cho vợ chồng ông bà gấp đôi số tiền đã đặt cọc tương đương là 1.000.000.000đ( Một tỷ đồng).

Tại phiên tòa, Ông H rút lại yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng ý hủy hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/07/2017 với Bà L, Ông L. Ông Hoàng yêu cầu Bà L bồi thường cho ông gấp đôi số tiền đã đặt cọc theo hợp đồng là 1.000.000.000đ( Một tỷ đồng)

* Tại các bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bà L trình bày:

Vào khoảng năm 2017, bà có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Huy H và bà N 2000m2 đất thuộc thửa đất số X, tờ bản đồ số Y xã T( nay là phường T) thành phố B, tỉnh Đồng Nai với giá là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng), hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng, không có công chứng, hợp đồng do vợ chồng Ông H, Bà N soạn thảo. Ông H, Bà N đã đưa cho bà 500.000.000đ( Năm trăm triệu đồng) và hẹn đến tháng 9/2017 sẽ giao hết số tiền 300.000.000đ( Ba trăm triệu đồng) còn lại. Nhưng đến tháng 9/2017 Ông H, Bà N vẫn không thanh toán số tiền 300.000.000đ(Ba trăm triệu đồng) như thỏa thuận nên bà không giao đất cho Ông H, Bà N.

Nay Ông H khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng; nếu không thì phải bồi thường cho Ông H gấp đôi số tiền mà Ông H, Bà N đã đặt cọc với số tiền bồi thường là 1.000.000.000đ( Một tỷ đồng) thì bà không đồng ý.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà N: thống nhất ý kiến với Ông H

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Tại bản án sơ thẩm số: 38/2019/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy H. Hủy hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/07/2017 giữa ông Nguyễn Huy H bà N với bà L và ông L. Buộc bà L, ông L có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Huy H, bà N số tiền 500.0000.0000đ( Năm trăm triệu đồng). Đình chỉ yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/07/2017 giữa ông Nguyễn Huy H bà N với bà L và ông L. Buộc ông Nguyễn Huy H bà N có trách nhiệm trả cho bà L và ông L 01( một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN087114 do ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 11/06/2013 cho Ông L Bà L

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến ngày thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 BLDS năm 2015

Ngoài ra còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 27/8/2019 nguyên đơn ông Nguyễn Huy H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 38/2019/DSST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

* Ngày 18/9/2019 Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 296/QĐ/KNPT – P9 kháng nghị đối với bản án số 38/2019/DSST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai và đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục chung.

Trong quá trình tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không lấy lời khai của Ông L và Ông L cũng không có bản tự khai nộp cho tòa án, cấp sơ thẩm nhận định Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án không có đơn xin xét xử vắng mặt của Ông L là thiếu sót. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Ông L.

Về kháng cáo của Ông H-Bà N và kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Đối với kháng cáo của Ông H và Bà N cho rằng cấp sơ thẩm tuyên đình chỉ về việc “tiếp tục thực hiện hợp đồng CNQSD đất” của nguyên đơn, hủy hợp đồng CNQSD đất giữa bị đơn với nguyên đơn ký ngày 19/7/2017, bị đơn trả lại cho nguyên đơn 500.000.000 đồng mà không bồi thường cho nguyên đơn ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên đề nghị sửa án sơ thẩm. Xét kháng cáo của Ông H-Bà N là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng: Tòa cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/7/2017 giữa Ông H, Bà N với Bà L, Ông L được thể hiện và phân tích tại phần nhận định “ Về lỗi trong hợp đồng được xác định như sau:” nhưng sau khi nhận định, phân tích xong thì Hội đồng xét xử không xác định, nhận định lỗi cụ thể thuộc về ai mà nhận định luôn “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông H......”. Hơn nửa Tòa sơ thẩm cần xác định, đánh giá chứng cứ khách quan xác định lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu, nội dung của hợp đồng mâu thuẫn giữa phương thức thanh toán và trách nhiệm của các bên. Cấp sơ thẩm cần làm rõ thời hạn thanh toán vì trong hợp đồng ngày 19/7/2017 không ghi thời hạn trả số tiền còn lại 300.000.000đ. Do các bên không thỏa thuận về thời hạn thanh toán và hợp đồng không thỏa thuận đặt cọc nhưng phần trách nhiệm của các bên lại thỏa thuận phạt cọc. Do đó phải xác định hai bên cùng có lỗi dấn đến hợp đồng không thể thực hiện được do vô hiệu. Đồng thời cấp sơ thẩm không giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ Luật dân sự 2015.

Tại phần nhận định của Bản án cấp sơ thẩm cho rằng số tiền 500.000.000đ mà Ông H, Bà N thanh toán cho Bà L, Ông L là số tiền đặt cọc là không đúng. Bởi lẽ, cần phải xác định rõ bản chất của Hợp đồng cả về hình thức và nội dung; Hợp đồng ngày 19/7/2017 (Bút lục 16,17) thể hiện Hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất có các Điều, Khoản quy định về giá mua bán, phương thức thanh toán qua các đợt 1, đợt 2 và trách nhiệm của các bên cho nên việc Bà L viết trong hợp đồng “..... nhận đủ số tiền cọc là 500.000.000đ thì không thể coi đây là tiền cọc vì hợp đồng không có ghi số tiền cọc mà do Bà L ghi tiền cọc. Thực chất là số tiền mà bên B - ông Nguyễn Huy H, bà N thanh toán theo từng đợt cho bên A - ông L, bà L.

Phiên tòa sơ thẩm được xét xử 02 ngày, kể từ ngày 19 và ngày 20/8/2019, ngày 20/8/2019 Bà N vắng mặt Tòa cấp sơ thẩm vẫn nhận định và tuyên đình chỉ yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 19/7/2017 giữa Ông H, Bà N với Bà L, Ông L là không đúng. Bởi lẽ, tại phiên tòa chỉ có Ông H là người yêu cầu không tiếp tục thực hiện hợp đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa lấy ý kiến hỏi Bà N về việc có yêu cầu tiếp tục hợp đồng hay không mà đã tuyên đình chỉ về phần nội dung yêu cầu này là chưa đầy đủ và không đúng (được thể hiện tại trang 4 của Bản án phần nhận định) cho nên kéo theo hậu quả không giải quyết triệt để đầy đủ, đúng yêu cầu khởi kiện đương sự. Nguyên đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, trường hợp không thực hiện được hợp đồng thì phải bồi thường. Tuy nhiên cấp sơ thẩm đình chỉ về nội dung yêu cầu này mà không xem xét yêu cầu bồi thường là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của nguyên đơn.

Tại bản án sơ thẩm thể hiện Tòa cấp sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng phần tuyên án lại chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên buộc Bà L, Ông L có trách nhiệm trả lại cho Ông H, Bà N số tiền 500.000.000đ là mâu thuẫn vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không giải quyết triệt để vụ án.

Tại hồ sơ vụ án thể hiện Tòa cấp sơ thẩm chưa tiến hành thu thập, xác minh làm rõ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, để tách thửa đất tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là một thiếu sót. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn vi phạm về thủ tục nghị án như tại biên bản nghị án Bút lục số 140, 141, 142 không ghi phần Quyết định của Hội đồng xét xử vào biên bản nghị án theo Khoản 3, Điều 264 Bộ Luật tố tụng dân sự, theo nghị quyết số 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Đồng thời tại phần nhận định Hội đồng xét xử có nhận định về chi phí tố tụng nhưng đến phần Quyết định không tuyên về phần chi phí tố tụng của các bên đương sự là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng. Từ những vi phạm trên của cấp sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm.

Xét kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thừa nhận số tiền nguyên đơn trả 500.000.000 đồng là tiền thanh toán lần 1 của hợp đồng CNQSD đất như vậy quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng CNQSD đất do đó tòa án cần xem xét hợp đồng này có hiệu lực hay vô hiệu nếu vô hiệu thì sẽ giải quyết hậu quả của vô hiệu. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đề nghị nếu tòa án tuyên vô hiệu thì đề nghị tòa án giải quyết hợp đồng vô hiệu. Do sự thừa nhận của nguyên đơn và bị đơn đã làm thay đổi bản chất của sự việc liên quan đến đường lối giải quyết của vụ án mà chưa được tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết nên cần phải hủy án sơ thẩm để chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Từ những nhận định trên, do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ trong vụ án, đồng thời vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo cuả ông Nguyễn Huy H, bà N, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;

Ông H, Bà N nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và hoàn trả tạm ứng án phí phúc thẩm cho Ông H, Bà N.

Về án phí sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: kháng cáo của ông Nguyễn Huy H, bà N.

Hủy bản án sơ thẩm số 38/2019/DS-ST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B. Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố B giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí: Ông Nguyễn Huy H, bà N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho Ông H, Bà N mỗi người 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000309; 0000310 ngày 27/8/2019; của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biê Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về án phí sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ