vanban.org

Bản án 44/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] . Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] . Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khỏan 2 điều 51; điều 90; điều 91; điều 101và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Trần Ngọc H 06 (Sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mƣời hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Ngọc H cho Ủy ban nhân …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] . Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
*******
Bản án số: 44 /2019/HSST
Ngày : 04/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông NGUYỄN MINH SƠN

2/. Bà NGUYỄN THỊ THU THẢO

- Thư ký phiên tòa: Ông TRẦN THANH TÀI - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà CAO THỊ HỒNG PHƢỢNG - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 4 năm 2019. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2019/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2019; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐ-HSST ngày 20 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN NGỌC H. Sinh ngày 26 tháng 11 năm 2000. Nơi sinh: Đắk Lắk. Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã E, huyện M, Đắk Lắk. Chỗ ở: Thôn B, xã E, huyện M, Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông: Trần Ngọc H, sinh năm 1972; Con bà: Trần Thị L, sinh năm 1983. Hiện ở tại: Thôn B, xã E, huyện M, Đắk Lắk. Bị cáo chƣa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/10/23018 đến ngày 31/10/2018 đƣợc thay đổi Biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại: Thôn B, xã E, huyện M, Đắk Lắk. Có mặt.

Người bào chữa:

Ông Nguyễn Văn D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Lâm Đồng bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc H. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1972, là cha ruột của bị cáo Trần Ngọc H. Có mặt.

Người bị hại:

Anh Trần Đức L, sinh năm 1994. Hộ khẩu thƣờng trú tại: 45/2 - Ngô Thì Sỹ, Phƣờng 4, thành phố Đ, Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trần Ngọc H là ngƣời từ tỉnh Đắk Lắk đến thành phố Đ, Lâm Đồng để tìm việc làm. Khoảng 12 giờ ngày 24/10/2018, khi H đi bộ đến Bùng binh tại Ngã ba đƣờng Y và đƣờng T, Phƣờng 10, thành phố Đ, Lâm Đồng thì phát hiện thấy có 01 xe mô tô hiệu HonDa Wave RSX, màu đỏ-đen, biển kiểm soát B1, trên xe có treo một túi đựng các dụng cụ, đồ đạc dùng để sửa chữa cáp điện của anh Trần Đức L đang để kế bên Bùng binh, không có ngƣời trông coi, chìa khóa xe vẫn đang cắm ở ổ khóa xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này để làm phƣơng tiện đi lại. Thực hiện ý định, H đi đến gần chiếc xe, nổ máy xe rồi chạy theo hƣớng từ đƣờng T ra đƣờng V, Phƣờng 10, thành phố Đ, Lâm Đồng rồi chạy đến một con hẻm thì dừng xe lại, mở túi đồ dang treo trên xe ra kiểm tra thì thấy có: 01 khoan điện màu xanh đen; 06 mũi khoan các loại; 01 kéo; 01 búa; 02 tuốc nơ vít; 04 cây sắt dùng để leo trụ điện và 01 dụng cụ bấm dây đồng. Sau khi kiểm tra, H vứt túi xách và lấy toàn bộ dụng cụ bên trong, bỏ vào trong xe rồi tiếp tục điều khiển xe để đi tìm việc làm. Đến tối cùng ngày, H điều khiển xe đến quán Internet L ở đƣờng C, Phƣờng C, thành phố Đ, Lâm Đồng thì dừng xe lại và đi vào trong Quán thì bị Công an thành phố Đ, Lâm Đồng mời về Cơ quan làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 95 ngày 31/10/2018 và số 114 ngày 28/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, Lâm Đồng xác định: Tổng tài sản của anh Trần Đức L bị mất, gồm: 01 xe mô tô và toàn bộ số đồ nghề làm điện của anh L để trên xe trị giá 13.538.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại toàn bộ cho anh L, anh L không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm.

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 12/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận vào ngày 24/10/2018, bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự mất cảnh giác của anh Trần Đức L, để xe ở ngoài đƣờng vào ban ngày, nhƣng không khóa xe, không có ngƣời trông coi, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản là các dụng cụ làm điện và cả chiếc xe mô tô của anh L với tổng trị giá toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt là 13.538.000 đồng với các hành vi cụ thể nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận nhƣ sau: Tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của ngƣời bị hại, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá là 13.538.000 đồng, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 90; điều 91 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 09 đến 12 tháng tù. Thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng. Phần bồi thƣờng: Quá trình điều tra toàn bộ tài sản đã đƣợc thu giữ và trả lại cho ngƣời bị hại, hiện nay ngƣời bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm nên không xem xét. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật.

Bị cáo và Ngƣời bào chữa cho bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và ngƣời bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã đƣợc tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc H:

Bị cáo là ngƣời đã trƣởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng ngƣời bị hại mất cảnh giác và chủ quan trong việc quản lý tài sản của mình, đã lén lút để chiếm đoạt tài sản là những dụng cụ làm điện cùng xe mô tô của ngƣời bị hại với tổng trị giá tài sản 13.538.000 đồng với mục đích để sử dụng cho nhu cầu cá nhân là hành vi trái pháp luật, xâm hại trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là ngƣời chủ động và trực tiếp thực hiện việc trộm cắp tài sản với mục đích tƣ lợi, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phƣơng.

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã đƣợc thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Ngọc H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm đối với bị cáo đƣợc qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nhƣ Cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm vào các tình tiết định khung tăng nặng nào theo qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt nào theo qui định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi bị phát hiện, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, khi thực hiện tội phạm bị cáo là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi, phạm tội lần đầu, thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã đƣợc thu hồi và trả lại toàn bộ cho ngƣời bị hại, đƣợc ngƣời bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i, s khoản 1 và khỏan 2 điều 51; điều 90; điều 91 và điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, khi phạm tội là ngƣời chƣa thành niên và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét chƣa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng qui định tại điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo đƣợc tự cải tạo ngoài xã hội dƣới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phƣơng và gia đình cũng có điều kiện giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và đã trả lại đầy đủ cho ngƣời bị hại. Đến nay ngƣời bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm nên không xem xét để giải quyết phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo đối với ngƣời bị hại trong bản án này.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có: 01 xe mô tô hiệu HonDa Wave RSX màu đỏ-đen, biển kiểm soát B1, cùng toàn bộ dụng cụ làm điện của ngƣời bị hại cùng với 01 đồng hồ đeo tay của bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu. Một USB ghi lại hình ảnh bị cáo chiếm đoạt xe, Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức lƣu vào hồ sơ vụ án nên không xem xét để xử lý tiếp.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khỏan 2 điều 51; điều 90; điều 91; điều 101và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Trần Ngọc H 06 (Sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mƣời hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Đ, Đắk Lắk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng Chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trƣờng hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cƣ trú trong thời gian thử thách án treo thì việc thi hành án sẽ đƣợc thực hiện theo qui định tại khoản 4 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách án treo, bị cáo có nghĩa vụ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo qui định tại Luật thi hành án hình sự. Nếu bị cáo cố ý vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ theo qui định tại Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, bị cáo có thể sẽ bị Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù đã cho hƣởng án treo tại Trại giam.

. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; ngƣời bào chữa và ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ