- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Xuân H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2019/HS–ST Ngày 29/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Duy Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phan T Hùng
2. Ông Tạ Nhật Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng -Thư kýTòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:Ông Lê Bình Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân H, sinh ngày 17/10/1971
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Ki ốt số 16, chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Buôn bán); Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Vinh(đã chết) và bà Đỗ Thị Mộc, sinh năm 1937; có vợ là bà Đỗ Thị D, sinh năm 1974 và 03 con, con lớn sinh năm 1998; con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9/12, sau đó ở nhà lao động.
Ngày 21/4/2019, bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt khẩn cấp sau đó chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (bị cáo được trích xuất có mặt)
2. Đặng Văn T, sinh ngày 10/4/1994
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Thượng Điền, xã Tam Quang, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Ki ốt số 04, chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Buôn bán); Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1956 và bà Trịnh Thị Trâm, sinh năm 1960; có vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998 và 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến lớp 12, sau đó học tại Trường Cao đẳng Hàng Hải – Hải Phòng, sau ra trường về địa phương lao động tự do. Ngày 23/4/2019 bị bắt tạm giam; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (bị cáo được trích xuất có mặt)
- Bị hại: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1972
Nơi cư trú: thôn La Uyên, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Nhâm Thị Mùi, sinh năm 1934 (là mẹ ông H);
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1974 (là vợ ông H);
- Anh Phạm Văn Hảo, sinh năm 1993 (là con ông H);
- Chị Phạm Thị Huyền, sinh năm 1998 (là côn ông H)
Đều cư trú tại: thôn La Uyên, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Bà Nhâm, anh Hảo, chị Huyền đều ủy quyền cho bà Phạm Thị N tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 13/6/2019.
Những người làm chứng:
- Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1974
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình ( có mặt)
Nơi cư trú: ki ốt số 16, chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998 ( có mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Thượng Điền, xã Tam Quang, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: ki ốt số 04, chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Ông Nguyễn Văn Hiền, sinh năm 1963 ( có mặt)
Nơi cư trú: thôn Minh Quàn, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Ông Phạm Duy Biên, sinh năm 1976 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: khu Trung Hưng 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân H và vợ là bà Đỗ Thị D thuê kiốt số 16, chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình để buôn bán giết mổ gia cầm. Khoảng giữa tháng 4/2019, phát hiện bị mất trộm gà nên H đã thuê người lắp đặt hệ thống Camera và chuông báo; hai mắt Camera quay về phía lồng gà để trông coi gia cầm nhốt trong các lồng kim loại đặt trước cửa ki ốt, một mắt Camera quay về phía bên trong kiốt, đồng thời H nhặt 05 viên gạch bê tông kích thước khác nhau đường kính khoảng 5-7cm để ở gầm cầu thang mục đích khi phát hiện có người đến bắt trộm gà sẽ dùng viên gạch bê tông ném vào người bắt trộm gà. Hồi 03h54’ ngày 21/4/2019, H và bà D đang ngủ tại gác xép của ki ốt thì nghe thấy chuông báo động, H nhìn qua màn hình Camea thấy có người bắt trộm gà sau này H mới biết là anh Phạm Văn H sinh năm 1972 trú tại thôn La Uyên, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình đi đến khu vực lồng gà trước cửa ki ốt và thò tay bắt gà trong lồng. H chạy xuống cầu thang, tay phải nhặt viên gạch bê tông kích thước 7x5,5cm cất trước đó ở chân cầu thang, tay trái mở cửa ki ốt. Phát hiện có người mở cửa anh H bỏ chạy, H dùng tay phải ném viên bê tông trúng vào mặt trước khớp gối ngoài bên phải anh H, anh H chạy khoảng 05 mét thì ngã úp mặt xuống đường trước cửa ki ốt số 17, H đuổi theo ôm ghì đè anh H nằm úp mặt xuống đường dùng tay trái túm tóc sau gáy đập mặt anh H xuống đường hai cái. Bà D thấy H bắt được anh H nên chạy sang ki ốt số 04 cách khoảng 50 mét đập cửa gọi con rể là Đặng Văn T “T ơi, bố mày bắt được trộm rồi” và đi về. Nghe tiếng gọi T tỉnh giấc đi chân đất chạy sang ki ốt số 16; đến nơi thấy H đang ngồi khom người, hai tay ghì giữ anh H bẻ quặt về sau, anh H ngồi bệt xuống đường phía trước H. T dùng chân phải đá mạnh một cái vào vai phải anh H sau đó dùng tay phải túm cổ áo phía sau kéo lê anh H về trước cửa ki ốt số 16 rồi buông anh H ra, tay phải cầm điện thoại chỉ vào mặt anh H, tay trái túm tóc anh H. H giơ chân phải vào gần mặt anh H nói “tao đá một phát mày bay đầu đấy, mày muốn tao cắt gót không, Đ mẹ mày tao cầm dao tao cắt gót mày” rồi đi vào trong ki ốt lấy dao kim loại cán gỗ dài 57cm bản rộng 7,5cm ra đứng sát cầm dao chỉ vào mặt anh H và nói “Đ mẹ để tao cắt gót thằng này”, T cầm chân phải anh H nói “Đ mẹ mày mang chân ra đây” anh H van xin. T dùng tay phải túm tóc anh H kéo ngửa về phía sau nói “Đ mẹ mày nhớ chưa”, H mang dao vào bên trong cất rồi đi ra tra hỏi anh H đã bắt trộm bao nhiêu con gà, anh H không thừa nhận. T túm tóc anh H, H dùng chân phải đá mạnh một cái, đạp một cái vào sườn bên trái làm anh H ngã ngửa ra đường. T túm tóc anh H kéo ngồi dậy, H tiếp tục dùng chân phải đá mạnh một cái nữa vào sườn trái anh H và nói “Đ mẹ mày còn cãi à”, T dùng tay trái tát hai cái vào má phải anh H. H đứng cạnh chửi “tao tha cho mày nếu mày ăn hết bát cứt gà này nhé, hay là mày muốn cắt gót, hay là mày muốn đi viện xong rồi mày chết, tao đánh cho mày để mày đi viện xong về mày chết”; H dùng tay phải đấm một cái vào ngực trái anh H và chửi “Đ mẹ mày đớp bao nhiêu con gà của tao rồi”, sau đó tiếp tục đấm 03 cái vào ngực trái anh H, dùng chân phải đá mạnh một cái nữa vào sườn trái làm anh H ngã nghiêng phải nằm ra đường, H nói “thích cãi à”. T túm tóc kéo anh H ngồi dậy, anh H chắp tay van xin, H nói “tao cho mày đi viện về ba tháng mày hỏng hết nội tạng mày có tin không”. T tát hai cái vào má phải anh H, H tiếp tục dùng chân phải đá mạnh một cái nữa vào sườn trái làm anh H ngã nghiêng phải nằm ra đường. Khi anh H ngã ra đường, T chửi “mày chết mẹ mày đi”, H cúi xuống dùng tay phải đấm một cái vào đùi trái của anh H và nói “tha đánh cho mày hỏng nội tạng là tốt rồi đấy, đ mẹ cho đi viện rồi mày chết dần, tao đánh T chứ không đánh gãy chân, gãy tay đâu”. Anh H nằm ở đường, T nói “ngồi lên”, H nói “kệ mẹ, cho nó chết đi”, anh H co giật và nằm bất động, H chửi “Đ mẹ cho uống nước cứt gà, thích nằm đấy à” đồng thời H lấy chiếc bát để cho gà ăn tiến về phía lồng gà, tay phải cầm vòi nước xịt vào lồng gà, tay trái hứng bát sau đó chuyển tay phải cầm bát nước hất vào mặt anh H nhưng anh H không có phản ứng gì. Khoảng 25 phút sau không thấy anh H tỉnh, T lấy khăn màu xanh lau mặt anh H và dùng tay đặt lên mũi anh H không thấy thở, sờ bụng anh H thấy lạnh, sau đó T cùng H chở anh H bằng xe máy đến Bệnh viện đa khoa huyện V, thỉnh Thái Bình, T chở H về, H đi xe đạp của anh H mang ra để ở Bệnh viện. Các Bác sỹ thăm khám, hội chuẩn và kết luận anh H chết trước khi đến Bệnh viện.
- Bản Kết luận giám định số 2145/C09(TT3) ngày 31/5/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Các dấu vết màu nâu ghi thu tại vị trí số 01, 02 trên hiện trường là máu của nạn nhân Phạm Văn H.
- Bản kết luận giám định số 2138/C09-TT1 ngày 05/6/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Hình ảnh thiếu máu các tạng/gan viêm xơ mạn tính, thoái hóa mỡ (Bút lục số 105-106).
- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 65/PY-PC09 ngày 14/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Đa chấn thương vùng mặt và toàn thân do tác động với vật tày cứng làm gãy 04 xương sườn bên trái và vỡ lách cực trên gây chảy máu trong ổ bụng. Nguyên nhân chết: Nạn nhân chết do mất máu cấp trên người có cơ địa gan viêm xơ mạn tính, thoái hóa mỡ (Bút lục số 107-108).
Tại cáo trạng số 35/CT-VKSTB ngày 10/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T về tội: “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T phạm tội “Giết người”. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b,e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H mức án từ 07 năm đến 08 năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 21/4/2019 và áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b,e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án từ 05 năm tù đến 06 năm tù thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2019. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Ngoài ra, còn đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì. Người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định Tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Báo cáo vụ việc ngày 21/4/2019 của Công an thị trấn V và Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 07h ngày 21/4/2019; Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật, dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình lập hồi 13h20’ ngày 21/4/2019; Biên bản xem xét dấu vết trên đồ vật do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 11h45 ngày 21/4/2019; Biên bản làm việc với Bệnh viện đa khoa huyện V hồi 7h45’ ngày 21/4/2019; Biên bản hội chẩn do Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình lập ngày 21/4/2019; Biên bản mở niêm phong đồ vật bị tạm giữ và xem xét hình ảnh, âm thanh của Camera do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 08h05 ngày 29/4/2019; Bản kết luận giám định số 2125/C09-P6 ngày 15/8/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 08h30’ ngày 21/4/2019; Bản Kết luận giám định số 2145/C09(TT3) ngày 31/5/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Biên bản khám nghiệm tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện V lập hồi 09h ngày 21/4/2019; Bản kết luận giám định số 2138/C09-TT1 ngày 05/6/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 65/PY-PC09 ngày 14/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 03h54’ ngày 21/4/2019, tại khu vực chợ Thẫm, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình do anh Phạm Văn H sinh năm 1972 trú tại thôn La Uyên, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình bắt trộm gà của Nguyễn Xuân H; các bị cáo Nguyễn Xuân H, Đặng Văn T có hành vi dùng chân, tay đấm, đá, đạp vào vùng ngực, sườn bên trái, bên phải làm anh H gãy xương sườn số 5,6,7,8 đường nách trên bên trái, vỡ lách cực trên gây chảy máu trong ổ bụng và chết trên đường đi cấp cứu. Nguyên nhân chết do mất máu cấp, trên người có cơ địa gan viêm xơ mạn tính, thoái hóa mỡ.
Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
...
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của anh Phạm Văn H, gây mất mát đau thương rất lớn cho gia đình bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Mặc dù, các bị cáo nhận thức hậu quả mà hành vi của mình đối với tính mạng của anh H, song các bị cáo vẫn có hành vi dùng chân, tay đấm, đá, đạp vào vùng ngực, sườn bên trái, bên phải làm anh H gãy xương sườn số 5,6,7,8 đường nách trên bên trái, vỡ lách cực trên gây chảy máu trong bụng và chết do mất máu cấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo không phân công, phân nhiệm, không bàn bạc với nhau từ trước, bị cáo H có vai trò chính người trực tiếp đá nhiều lần vào khu vực bụng của anh H dẫn đến anh H chết, bị cáo T với vai trò là người giúp sức tiếp nhận ý chí của bị cáo H giúp sức cho bị cáo H đánh anh H. Do vậy, bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T. Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt buộc các bị cáo phải cải tạo và cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả với tổng số tiền 110 triệu đồng, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo phạm tôi một phần do người bị hại có hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo H có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo H và bị cáo T đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có nhiều tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có vai trò không lớn trong vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo T được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với bà Đỗ Thị D có mặt trực tiếp tại hiện trường chứng kiến toàn bộ quá trình các bị cáo H, T tra hỏi đánh anh H nhưng bà D không tham gia đánh anh H, không có lời nói, hành động gì kích động, thúc đẩy, tác động đến các bị cáo nên không đồng phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình không xử lý bà D là phù hợp
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại các khoản chi phí cứu chữa, chi phí mai táng bị hại và tiền tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật. Vì vậy, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy, 06 viên gạch bê tông (loại gạch lát nền vỉa hè đã bị vỡ) có kích thước lần lượt (11x17)cm, (18x12) cm, (11x5,5)cm, (7x5,5)cm, (13x5)cm, (9x5)cm; 02 viên gạch bê tông, một phẳng hình tròn, một mặt hình cầu có kích thước lần lượt là (10,5x6,5)cm và (10,5x5,5)cm; 03 viên gạch bê tông có cùng kích thước (11x23)cm, 01 viên gạch bê tông có kích thước (11x22)cm (loại gạch lát nền vỉa hè); 01 viên gạch đỏ có kích thước (10x21)cm; 01 khăn vải màu xanh, trên khăn mặt có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 quần vải màu hồng, có sọc màu đen (dạng quần lửng của nữ); 01 áo vải màu hồng nhạt có họa tiết hoa quả lá, trên áo có bám dính một số tạp chất màu nâu đỏ; 01 áo sơ mi dài tay cổ bẻ màu xanh, phần thân áo có bám dính chất màu đỏ; 01 quần lửng vải màu xám, cạp chun, tại đũng quần bị ướt có bám dính nhiều phân người; 01 đôi dép màu xanh ghi ký hiệu JTC (dạng dép sục); 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ dài 57cm, đầu lưỡi dao tù, phần bản dao rộng nhất 7,5cm; 01 đôi dép đế bằng cao su có hai quai; Bao bì thư bên trong bao bì là phần còn lại sau giám định của các dấu vết máu người ghi thu tại vị trí số 01, 02 trên hiện trường và mẫu máu ghi thu của nạn nhân Phạm Văn H không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Trả lại gia đình bà Phạm Thị N 01 xe đạp nhãn hiệu ASAMA sơn màu xanh gắn giỏ màu trắng. Trả lại cho bà Đỗ Thị D 01 đầu thu camera nhãn hiệu Dahua màu đen, số seri DH-XVR5104HS-X1 và S/N4L028DDPAZ32B41; 01 dây cáp nguồn đầu thu camera màu đen có model ADS-26FSG-1212018EPG
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T phạm tội “Giết người”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b,e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2019.
Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b,e,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 05 ( năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2019.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại gia đình bà Phạm Thị N 01 xe đạp nhãn hiệu ASAMA sơn màu xanh gắn giỏ màu trắng. Tịch thu tiêu hủy 06 viên gạch bê tông (loại gạch lát nền vỉa hè đã bị vỡ) có kích thước lần lượt (11x17)cm, (18x12) cm, (11x5,5)cm, (7x5,5)cm, (13x5)cm, (9x5)cm; 02 viên gạch bê tông, một phẳng hình tròn, một mặt hình cầu có kích thước lần lượt là (10,5x6,5)cm và (10,5x5,5)cm; 03 viên gạch bê tông có cùng kích thước (11x23)cm, 01 viên gạch bê tông có kích thước (11x22)cm (loại gạch lát nền vỉa hè); 01 viên gạch đỏ có kích thước (10x21)cm; 01 khăn vải màu xanh, trên khăn mặt có bám dính tạp chất màu đỏ; 01 quần vải màu hồng, có sọc màu đen (dạng quần lửng của nữ); 01 áo vải màu hồng nhạt có họa tiết hoa quả lá, trên áo có bám dính một số tạp chất màu nâu đỏ; 01 áo sơ mi dài tay cổ bẻ màu xanh, phần thân áo có bám dính chất màu đỏ; 01 quần lửng vải màu xám, cạp chun, tại đũng quần bị ướt có bám dính nhiều phân người; 01 đôi dép màu xanh ghi ký hiệu JTC (dạng dép sục), 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ dài 57cm, đầu lưỡi dao tù, phần bản dao rộng nhất 7,5cm; 01 đôi dép đế bằng cao su có hai quai, bao bì thư bên trong bao bì là phần còn lại sau giám định của các dấu vết máu người ghi thu tại vị trí số 01, 02 trên hiện trường và mẫu máu ghi thu của nạn nhân Phạm Văn H.
Trả lại cho bà Đỗ Thị D 01 đầu thu camera nhãn hiệu Dahua màu đen, số seri DH-XVR5104HS-X1 và S/N4L028DDPAZ32B41; 01 dây cáp nguồn đầu thu camera màu đen có model ADS-26FSG-1212018EPG
(Các vật chứng trên đã chuyển Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình ).
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Xuân H và Đặng Văn T; bà Phạm Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/10/2019. *Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - CA tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Duy Luân |