vanban.org

Bản án 44/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Phúc L (tên gọi khác: Bợm) và Ninh Ngọc H (tên gọi khác: Méo), phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Phúc L, Ninh Ngọc H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Phúc L (tên gọi khác: Bợm) và Ninh Ngọc H (tên gọi khác: Méo), phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HSST
Ngày: 27/08/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm, bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 08 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ Phúc L; sinh năm 1992 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: tổ Dân phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đ và bà Trần Thị U (đã chết); tiền sự: Không; tiền án: có 03 tiền án: Bản án số 60/2010/HSST ngày 22/10/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều kH phương tiện giao thông đường bộ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2012; Bản án số 69/2013/HSST ngày 27/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2014; Bản án số 45/2015/HSST ngày 18/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017; Tại bản án này L bị áp dụng tình tiết “ Tái phạm nguy hiểm”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Di Linh. Có mặt.

2. Họ và tên: Ninh Ngọc H; sinh năm 1982 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: tổ Dân phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Văn T và bà Lê Thị Thanh G; tiền sự: Không; nhân thân: có 01 tiền án tại bản án số: 45/2007/HSST ngày 22/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2010, bị cáo được bị cáo khác bồi thường thay về bồi thường dân sự, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an huyện Di Linh. Có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Ka T; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Anh Vũ Văn H; sinh năm: 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

3.Anh Nguyễn Văn T1; sinh năm: 1974; nơi cư trú: đường N, tổ Dân phố M, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Anh Nguyễn Thế L1; sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

2. Anh Võ Văn L2; sinh năm 1983; nơi cư trú: đường N, tổ Dân phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Ka T là nhân viên y tế của Trường mẫu giáo xã Đinh Lạc.Vào ngày 24/01/2019 để 01 chiếc cặp bên trong có 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu Dell 6320 i5 trên bàn làm việc tại phòng y tế của trường. Đến khoảng 18h00 cùng ngày khi quay lại phòng làm việc thì phát hiện laptop đã bị mất trộm và trình báo với cơ quan công an. Quá trình điều tra, xác minh đã xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp cụ thể như sau:

Vào lúc 12h00 ngày 24/01/2019, Ninh Ngọc H bàn nhau với Hồ Phúc L cùng nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. L điều kH xe môtô hiệu Sirius mượn của bạn ở Bảo L chở H đi dọc QL20 để tìm chỗ trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16h30 cùng ngày, L và H đi đến trường mẫu giáo Đinh Lạc, L đứng ngoài cổng chờ còn H đi vào trong trường tìm các phòng làm việc để trộm cắp tài sản. Khi đến phòng y tế của trường, quan sát xung quanh không có ai trông coi, H đi vào phòng và phát hiện 01 chiếc cặp đựng máy tính xách tay của chị Ka T để ở trên bàn thì H lấy mang đi ra chỗ L đang chờ để tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, L chở H đến tiệm mua bán điện thoại di động của ông Nguyễn Thế L1 nói dối là của chị gái nhờ bán và bán cho Nguyễn Thế L1 với giá 1.400.000 đồng, số tiền này L và H cùng nhau tiêu xài hết, sau đó L đã bán chiếc máy tính cho khách hàng không rõ địa chỉ, nên không thu hồi được.

Tại kết luận định giá tài sản số 60 ngày 13/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell 6320 i5 (hàng cũ đã qua sử dụng) trị giá 3.800.000 đồng.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra còn xác định H và L còn cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Vào ngày 31/01/2019, H tiếp tục rủ L đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. H chở L bằng xe mô tô hiệu Sirius (mượn của bạn ở Bảo L) đi dọc các đường tại thị trấn Di Linh để tìm chỗ trộm cắp tài sản. Đến 09h00 cùng ngày H và L phát hiện 02 cây hoa mai của anh Nguyễn Văn T1, đang để trước nhà gần lề đường nên H và L bàn nhau trộm cắp 01 cây hoa mai bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H và L cùng nhau bê 01 cây mai đặt lên yên sau xe máy rồi H chở L cùng cây hoa mai đến nhà của Võ Văn L2 nói dối là của nhà H cần bán, anh L2 đã mua với giá 600.000 đồng. Tiền bán cây hoa mai cả hai cùng nhau tiêu xài hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 107 ngày 09/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: 01 cây mai trồng trong chậu cao 1,2m, đường kính gốc 06cm trị giá 3.500.000 đồng.

Ngoài ra, Hồ Phúc L còn tự mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 22/4/2019 cụ thể: khoảng 08h00 ngày 22/4/2019 Hồ Phúc L đi bộ một mình ở đường đất thuộc tổ dân phố 4, TT Di Linh, huyện Di Linh thì phát hiện xe mô tô Biển số 49T6 – 6361 của anh Vũ Văn H dựng ở lề đường không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài. L rút dây điện của xe, đạp nổ máy rồi điều kH xe chạy ra Quốc lộ 20 đi về hướng Tp. Bảo Lộc. Khi đi đến xã Liên Đầm thì gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi đường, L nói xe của mình giờ cần tiền gấp và bán với giá 800.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 170 ngày 27/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: xe máy hiệu HONDA CUB biển số 49T6-6361 trị giá 4.250.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 24 tháng 7 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Hồ Phúc L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Ninh Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Phúc L từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Ninh Ngọc H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Xử lý vật chứng: 01 cây mai trồng trong chậu cao 1,2m, đường kính gốc 06cm do các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi, hiện đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T1.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Phúc L và Ninh Ngọc H liên đới bồi thường cho chị Ka T số tiền 3.800.000đ.

Đối với anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại cây hoa mai bị mất, nhưng cho rằng cây hoa mai bị gãy cành xấu đi so với trước khi bị mất, tại phiên tòa ông yêu cầu các bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Buộc Bị cáo Hồ Phúc L bồi thường cho anh Vũ Văn H số tiền 4.250.000đ

Đối với hành vi của anh Võ Văn L2 đã mua cây hoa mai trị giá 600.000 đồng, không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 600.000 đồng nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo L, H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay anh Võ Văn Lâm và anh Nguyễn Thế L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, nhưng trước đó đã có lời khai của họ ở cơ quan điều tra. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đều yêu cầu vẫn tiến hành xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật TTHS quyết định phiên tòa vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Di Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về căn cứ xác định tội: Tại cơ quan điều tra Công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 24/01/2019, tại Trường mẫu giáo xã Đinh Lạc – huyện Di Linh – tỉnh Lâm Đồng, Hồ Phúc L và Ninh Ngọc H đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu Dell 6320 i5 của chị Ka T trị giá 3.800.000 đồng.

Vào khoảng 08h30 ngày 31/01/2019, tại tổ dân phố 14 – TT Di Linh – huyện Di Linh – tỉnh Lâm Đồng, Hồ Phúc L và Ninh Ngọc H có hành vi trộm cắp 01 cây mai trồng trong chậu cao 1,2m, đường kính gốc 06cm của anh Nguyễn Văn T1 trị giá 3.500.000 đồng.

Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 22/4/2019, tại tổ dân phố 4 – TT Di Linh – huyện Di Linh, Hồ Phúc L có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô BS 49T6 – 6361 của anh Vũ Văn H trị giá 4.250.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 60 ngày 13/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell 6320 i5 (hàng cũ đã qua sử dụng) trị giá 3.800.000 đồng; Kết luận định giá tài sản số 107 ngày 09/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: 01 cây mai trồng trong chậu cao 1,2m, đường kính gốc 06cm trị giá 3.500.000 đồng và kết luận định giá tài sản số 170 ngày 27/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Di Linh kết luận: xe máy hiệu HONDA CUB biển số 49T6 - 6361 trị giá 4.250.000 đồng.

Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của bị hại và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, đủ căn cứ xét xử bị cáo Hồ Phúc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và xét xử bị cáo Ninh Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố.

Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện tội phạm các bị cáo đều biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, nếu ai xâm phạm thì sẽ bị nghiêm trị, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương làm cho nhân dân hoang mang bất bình lên án. Trong tình hình tội phạm xảy ra ở địa phương có chiều hướng phức tạp, đặc biệt là tội phạm xâm phạm sở hữu, do vậy việc xét xử đối với bị cáo phải nghiêm minh, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Hồ Phúc L, xét về nhân thân của bị cáo thì thấy, bị cáo là đối tượng có tiền án đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng định khung, quá trình thực hiện phạm tội lần này lại phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Do đó việc xét xử bị cáo phải nghiêm minh và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cao hơn so với bị cáo khác trong vụ án. Đối với Ninh Ngọc H là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị kết án, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, còn trách nhiệm dân sự được bị cáo khác trong vụ án bồi thường thay, đến nay đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện lại tiếp tục phạm tội và là người khởi xướng, phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, do đó cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Đối với hành vi của Nguyễn Thế L, Võ Văn Lâm khi mua tài sản do L và H bán không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, nên hành vi của Nguyễn Thế L, Võ Văn Lâm không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn T1, cây hoa mai bị mất (còn sống) nhưng anh cho rằng cây hoa mai bị gãy cành, xấu đi so với trước khi bị mất, nên yêu cầu các bị cáo Hồ Phúc L, Ninh Ngọc H bồi thường 2.000.000 đồng, các bị cáo chấp nhận bồi thường, xét thấy là hợp lý cần chấp; Đối với chiếc máy tính của bị hại là chị Ka T, quá trình điều tra không thu hồi được chị yêu cầu các bị cáo Hồ Phúc L, Ninh Ngọc H bồi thường giá trị tài sản theo kết quả định giá vì tài sản là 3.800.000đ là phù hợp cần chấp nhận. Anh Vũ Văn H yêu cầu bị cáo Hồ Phúc L bồi thường giá trị tài sản theo kết quả định giá vì tài sản không thu hồi được là 4.250.000đ. Đối với hành vi của anh Võ Văn Lâm mua cây mai do L và H bán là 600.000 đồng, tại phiên tòa anh Lâm vắng mặt có đơn không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 600.000 đồng, đây là khoản thu lợi bất chính. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, buộc các bị cáo nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Hồ Phúc L phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm ( 2.900.000 đồng + 4.250.000 đồng) x5% = 357.500 đồng và Ninh Ngọc H, phải chịu án 200.000 đồng phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Phúc L (tên gọi khác: Bợm) và Ninh Ngọc H (tên gọi khác: Méo), phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1.1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.2 Xử phạt: Bị cáo Hồ Phúc L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2019 .

1.3 Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.4 Xử phạt: Bị cáo Ninh Ngọc H 15(Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2019 .

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 584; Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Hồ Phúc L, Ninh Ngọc H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Ka T 3.800.000đ; anh Nguyễn Văn T1 2.000.000đ, tổng cộng là 5.800.000 đồng, phần của mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường là 2.900.000 đồng ( hai triệu chín trăm nghìn).

Buộc bị cáo Hồ Phúc L có trách nhiệm bồi thường cho anh Vũ Văn H số tiền 4.250.000đ ( Bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn) .

Buộc bị cáo Hồ Phúc L và Ninh Ngọc H mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn) sung vào Ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3.Về án phí: Bị cáo Hồ Phúc L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 357.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm; bị cáo Ninh Ngọc H, phải chịu án 200.000 đồng phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ