vanban.org

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Giao cháu Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 cho anh Lý S tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thạch Thị N Y không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu giải quyết nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thạch Thị N Y ly hôn với anh Lý S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 7 - 2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đém

2. Ông Trần Văn Hiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 471/2018/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2018 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Thạch Thị N Y, sinh năm 1989: có mặt

Địa chỉ: ấp N, xã C, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn:Anh Lý S, sinh năm 1982: vắng mặt

Địa chỉ: ấp N, xã C, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 11 năm 2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Thạch Thị N Y trình bày:

- Về hôn nhân: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Lý S có quan hệ vợ chồng, thành hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 09/10/2006. Thời gian chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2011, phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến dẫn đến ly thân từ tháng 8 năm 2011 cho đến nay. Do vậy, nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 hiện do anh S đang nuôi. Nguyên đơn đồng ý để anh S tiếp tục nuôi con, chị N Y không phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn, anh Lý S không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/3/2019, ông Thạch Ch, Phó Trưởng ấp N, xã C xác định: anh Lý S và chị N Y là vợ chồng sinh sống tại ấp N và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh S và chị N Y chung sống khoảng 10 năm, có nhà riêng và 01 con chung hiện đang do anh Lý S nuôi nhưng hiện tại, cả hai không còn chung sống và đều đã có vợ, chồng khác.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113, quyển số 01 ngày 09/10/2006 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì chị Thạch Thị N Y và anh Lý S là vợ chồng.

Theo Trích lục khai sinh số 156 ngày 01/7/2008 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, cháu Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 là con chung của chị Thạch Thị N Y và anh Lý S.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Vị Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng và đầy đủ, đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không có mặt để tham gia tố tụng là vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 12, 14, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Xử cho chị Thạch Thị N Y được ly hôn với anh Lý S.

- Về con chung: Giao cháu Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 cho anh Lý S tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thạch Thị N Y không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị miễn án phí cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn Lý S vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự.

Về hôn nhân: Chị Thạch Thị N Y và anh Lý S là vợ chồng đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo xác định của nguyên đơn và chứng cứ do Tòa án thu thập đều thể hiện giữa chị N Y và anh Lý S đã có mâu thuẫn dẫn đến ly thân trong thời gian dài, thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N Y theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 đang do anh Lý S nuôi dưỡng được chị N Y thống nhất nên cần giao con chung cho anh Lý S tiếp tục nuôi dưỡng, chị N Y không phải cấp dưỡng nuôi con như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự chưa có yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Miễn án phí cho nguyên đơn do là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 227, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Thạch Thị N Y được ly hôn với anh Lý S.

2.Về con chung: Giao cháu Lý Thị Thanh Th, sinh ngày 09/6/2008 cho anh Lý S tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thạch Thị N Y không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự chưa yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Miễn án phí cho nguyên đơn do là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ