vanban.org

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: chị Đào Thị H được ly hôn anh Đào Văn S. Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Tòa án không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hu xin ly hôn anh So"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18 /10 /2019
V/v “tranh chấp hôn nhân gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Hồng Thanh

2. Ông Nguyễn Văn Kiểm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 18 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2019/TLST-HNGĐ ngày 17/6/2019 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/9/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2019 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1976 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn NT, xã MĐ, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Đào Văn S, sinh năm 1974

(vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn C, xã L, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Đào Thị H trình bày:

Chị và anh Đào Văn S kết hôn 1998, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Sơn, huyện Tân Yên. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng anh S. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh S hay rượu chè rồi đánh đập vợ con. Chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh S không thay đổi được. Từ năm 2015, chị đã về nhà đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không quan tâm đến nhau. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn anh S.

Về con chung, tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/7/2019, bị đơn là anh Đào Văn S trình bày: anh và chị H kết hôn năm 1998 trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng anh tại thôn C, xã L, huyện Tân Yên. Năm 2005, anh chị vào miền Nam sinh sống, đến năm 2015 thì chị H cùng hai con về miền Bắc sinh sống, còn anh thì năm 2017 mới về quê sinh sống. Trong quá trình chung sống, thỉnh thoảng vợ chồng có đánh nhau. Anh chị sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn nhưng nếu chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Về con chung, tài sản, công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh.

Tại phiên tòa, anh S vắng mặt.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị H nộp đơn xin ly hôn anh S có nơi cư trú tại thôn C, xã L, huyện Tân Yên. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý giải quyết vụ án “tranh chấp hôn nhân và gia đình” là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về tố tụng: anh S vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh S là có căn cứ.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H:

Căn cứ vào lời khai của anh chị và các tài liệu chứng cứ thu thập được. HĐXX thấy, chị H và anh S xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L là hôn nhân hợp pháp. Sau khi về chung sống, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh S hay uống rượu, đánh đập chị H. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Qua xác minh, chính quyền địa phương cũng cho biết, anh chị có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: chị H và anh S không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đào Thị H được ly hôn anh Đào Văn S.

2. Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Án phí: chị Đào Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp là theo biên lai số AA/2018/0005806 ngày 17/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Đào Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tân Yên;

- CCTHADS huyện Tân Yên;

- UBND xã L;

- Các đương sự;

- Lưu hs.

Phạm Thế Đăng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vân

Cỡ chữ