vanban.org

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ.

Về con chung: bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ có 02 con chung là Lê Anh T sinh ngày 06/8/1995 và Lê Quốc Q sinh ngày 03/11/1999 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề cập. Về tài sản chung: bà L và ông Đ đều trình bày là không có nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Huỳnh L - Lê Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾNTRE
Bản án số: 44/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2019.
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Ánh Minh.

2. Ông Nguyễn Văn Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 114/2019/TLST-HNGĐ, ngày 29/3/2019 về việc: “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/6/2019. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh L, sinh năm 1963 (vắng mặt).

Trú tại: ấp H, xã H1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953 (vắng mặt).

Trú tại: ấp T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bà L và ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 29/3/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh L trình bày: bà và ông Đ cưới nhau vào năm 1993 do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới nhưng không có tiến hành đăng ký kết hôn. Sau khi cưới nhau, vợ chồng sống chung được gần 20 năm, thời gian sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu vợ chồng mất hạnh phúc là do bất đồng quan điểm với nhau, vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Thời gian sống chung, vợ chồng bà có 02 con chung là Lê Anh T sinh ngày 06/8/1995 và Lê Quốc Q sinh ngày 03/11/1999 đều đã thành niên và có khả năng lao động. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn Đ trình bày: về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống và con chung như bà L trình bày là đúng. Ông và bà L cưới nhau năm 1993 nhưng không có tiến hành đăng ký kết hôn. Thời gian sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu vợ chồng mất hạnh phúc là do bất đồng quan điểm với nhau, vợ chồng ông đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Ông và bà L có 02 con chung là Lê Anh T sinh ngày 06/8/1995 và Lê Quốc Q sinh ngày 03/11/1999 đều đã thành niên và có khả năng lao động. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh L và bị đơn ông Lê Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông Đ là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 1993 nhưng bà L và ông Đ không có tiến hành đăng ký kết hôn và cũng không có đăng ký kết hôn lại theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy: bà L và ông Đ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà L và ông Đ không tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên không được xem là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003;…Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận bà L và ông Đ là vợ chồng.

Về con chung: Thời gian sống chung, bà L và ông Đ có 02 con chung là Lê Anh T sinh ngày 06/8/1995 và Lê Quốc Q sinh ngày 03/11/1999 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: bà L và ông Đ đều trình bày là không có nên không xem xét.

Về nợ chung: bà L và ông Đ đều trình bày là không có nên không đề cập.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà L phải chịu 300.000 đồng do bà yêu cầu ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b, c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ.

Về con chung: bà Nguyễn Thị Huỳnh L và ông Lê Văn Đ có 02 con chung là Lê Anh T sinh ngày 06/8/1995 và Lê Quốc Q sinh ngày 03/11/1999 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề cập.

Về tài sản chung: bà L và ông Đ đều trình bày là không có nên không xem xét.

Về nợ chung: bà L và ông Đ đều trình bày là không có nên không đề cập.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Huỳnh L phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002816 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên bà không còn phải nộp thêm.

Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ