- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Em với Nhị"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điề 9, Điều 14 , Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2019/HNGĐ - ST Ngày: 04/9/2019. “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông PHAN CHÍ TÂM
- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông DANH ON
2/ Bà NGUYỄN THỊ HIỂU
- Thư ký phiên tòa: Bà THÁI KIM PHƢƠNG - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông DƢƠNG MINH KHA - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 85/2019/TLST–HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST–HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn E, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp Nh, xã N, huyện H, tỉnh B.
2. Bị đơn: Chị Lƣơng Kim Nh, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp Nh, xã N, huyện H, tỉnh B.
(Anh E vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Nh vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2019 và tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2019 nguyên đơn anh Huỳnh Văn E trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2002, anh Huỳnh Văn E và chị Lương Kim Nh có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không có tiến hành đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Mặc dù anh chị đã nhiều lần hàn gắn mối quan hệ nhưng không thể nào sống chung với nhau được nữa, nay anh E nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lương Kim Nh.
Về quan hệ con chung: Anh Huỳnh Văn E xác định giữa anh và chị Lương Kim Nh có 01 người con chung là Huỳnh Thị Trân, sinh ngày 10/5/2003. Hiện tại cháu Trân đang sống chung với chị Nh. Anh Huỳnh Văn E xác định do cháu Huỳnh Thị Trân đã lớn và đã trưởng thành nên tùy theo nguyện vọng của cháu Trân muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho cháu Trân.
Về tài sản chung: Anh Huỳnh Văn E xác định giữa anh và chị Lương Kim Nh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì.
Đối với bị đơn chị Lương Kim Nh: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối đối với chị Lương Kim Nh nhưng chị Nh không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với chị Nh. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do chị Nh không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phươg cũng xác định, chị Nh vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Nh, xã N, huyện H, tỉnh B và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu chị Nh có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Huỳnh Văn E và chị Lương Kim Nh là vợ chồng;
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trân, sinh ngày 10/5/2003 cho chị Lương Kim Nh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Huỳnh Văn E không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;
3. Về quan hệ tài sản: Anh Huỳnh Văn E không yêu cầu nên không đặt ra xE xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Anh Huỳnh Văn E khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Lương Kim Nh và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Lương Kim Nh có nơi đăng ký thường trú tại ấp Nh, xã N, huyện H, tỉnh B nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn anh Huỳnh Văn E tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Văn E. Bị đơn chị Lương Kim Nh vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Lương Kim Nh.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2002, anh Huỳnh Văn E và chị Lương Kim Nh có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không có tiến hành đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, anh Huỳnh Văn E xác định giữa anh và chị Lương Kim Nh có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Nay anh Huỳnh Văn E nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và anh yêu cầu xin ly hôn với chị Lương Kim Nh. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận anh Huỳnh Văn E và chị Lương Kim Nh là vợ chồng.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh Huỳnh Văn E xác định giữa anh và chị Lương Kim Nh có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Trân, sinh ngày 10/5/2003. Hiện tại cháu Trân đang sống chung với chị Nh. Anh Huỳnh Văn E xác định do cháu Huỳnh Thị Trân, sin ngày 10/5/2003 đã lớn và đã trưởng thành nên tùy theo nguyện vọng của cháu Trân muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho cháu Trân. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Trân hiện đang sống ổn định với chị Nh, đồng thời cháu Trân có nguyện vọng theo sống chung với chị Nh. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trân, sinh ngày 10/5/2003 cho chị Lương Kim Nh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Huỳnh Văn E không phải cấp dưỡng nuôi cháu Trân nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;
Về quan hệ tài sản: Anh Huỳnh Văn E xác định giữa anh và chị Lương Kim Nh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xE xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Huỳnh Văn E phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điề 9, Điều 14 , Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Huỳnh Văn E và chị Lương Kim Nh là vợ chồng.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thị Trân, sinh ngày 10/5/2003 cho chị Lương Kim Nh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Huỳnh Văn E không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;
3/ Về tài sản chung: Anh Huỳnh Văn E không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xE xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Huỳnh Văn E phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng anh E đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006136 ngày 20/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHAN CHÍ TÂM |