vanban.org

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Đoàn Thị T đối với ông Doãn Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị T đư c ly hôn với ông Doãn Văn T. Về con chung: Giao cho bà Đoàn Thị T trực tiếp chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006 và giao cho ông Doãn Văn T trực tiếp chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Mi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị T - Doãn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Đoàn Thị T đối với ông Doãn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21-11-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Quốc Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 168/2019/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Số A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Doãn Văn T, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: Số A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn c m t tại phiên tòa. Bị đơn vắng m t không c lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:[

* Theo đơn xin ly hôn ngày 18/4/2019, quá trình làm việc và lời trình bày tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn (bà Đoàn Thị T) thể hiện:

Bà T và ông T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, hôn nhân tự nguyên, c tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 15/02/2005.

Quá trình chung sống, hai v ch ng thường xuyên xảy ra mâu thu n, bất đ ng quan điểm sống vì lý do ông T c hành vi bạo lực gia đình và đập phá tài sản. Điều này đã làm ảnh hưởng cuộc sống và tinh thần của hai bên, bà T đã ly thân với ông T từ năm 2017 cho đến nay và thấy r ng mục đ ch hôn nhân không đạt đư c, hạnh phúc và tình ngh a v ch ng không còn nên bà T làm đơn xin ly hôn với ông T.

Quá trình chung sống hai v ch ng c 03 người con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006; Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016. Bà T yêu cầu đư c chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006. Bà T đ ng ý giao 02 con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012 và Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016 cho ông Doãn Văn T chăm s c, nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, n chung không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Hiện nay, bản thân bà T đang làm công nhân cao su của Nông trường cao su C với mức lương hàng tháng 5.000.000 đ ng (năm triệu đ ng) đủ điều kiện chăm lo cho cháu V.

Ngoài ra, nguyên đơn không c yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Theo biên bản làm việc ngày 18/6/2019, ngày 10/7/2019 của bị đơn (ông Doãn Văn T) thể hiện:

Ông T thống nhất với bà T về quá trình tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2004, hôn nhân tự nguyện, c tổ chức đám cưới, c đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 15/02/2005. Quá trình chung sống c 03 người con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006; Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016.

Đối với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông T không đ ng ý vì còn thương v , thương con. Trong cuộc sống gia đình ph a ông T nhận thấy r ng bản thân ông không c lỗi gì d n đến m u thu n tình cảm trầm trọng, mục đ ch hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy, trước yêu cầu ly hôn của bà T thì ông T không đ ng ý. Về con chung, hiện 02 con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016 đang sống cùng với ông T, đư c ông T cho ăn học đầy đủ. Riêng con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006 bị khuyết tật bẩm sinh sống cùng bà T. Trước yêu cầu về con chung của bà T thì ông T đ ng ý, không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, ông T đang làm nghề cạo mủ cao su thuê cho người khác với thu nhập hàng tháng từ 7.000.000 đ ng (bảy triệu đ ng) đến 8.000.000 đ ng (tám triệu đ ng) đảm bảo điều kiện chăm lo cho cháu P và Đ.

Về tài sản chung, n chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn ông T tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn cố tình vắng m t không c lý do. Quá trình xác minh, bị đơn c đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương và v n đang sinh sống tại địa phương.

Ngoài ra bị đơn không c yêu cầu, tranh chấp gì khác.

[

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng phát biểu tại phiên tòa: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa đư c tiến hành đúng trình tự. Tại phiên tòa, ph a bị đơn ông T vắng m t không lý do. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền, ngh a vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đề nghị xét xử vắng m t bị đơn theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị T đối với ông Doãn Văn T; giao con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006 cho bà T nuôi dưỡng, giao 02 con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012 và Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016 cho ông Doãn Văn T nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà T và ông T về việc không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, n chung không tranh chấp nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu c trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đang cư trú tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn bà T và bị đơn ông T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, hôn nhân tự nguyện, c tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 15/02/2005. Hôn nhân giữa bà T với ông T là h p pháp và đư c pháp luật thừa nhận.

Nguyên đơn cho r ng trong quá trình chung sống v ch ng thường xuyên phát sinh mâu thu n với lý do bị đơn c hành vi bạo lực gia đình và đập phá tài sản. Điều này đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần của hai bên, nguyên đơn đã ly thân với bị đơn từ năm 2017 cho đến nay. Vì vậy, nguyên đơn làm đơn xin ly hôn với bị đơn.

Ngư c lại, ph a bị đơn ông T không đ ng ý ly hôn với nguyên đơn vì cho r ng còn thương v thương con, bị đơn nhận thấy r ng bản thân không c lỗi gì d n đến mâu thu n của v ch ng. Tuy nhiên, ngày 31/10/2019, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thu n gia đình của nguyên đơn và bị đơn tại địa phương thể hiện, trong quá trình sống chung sống với nhau hai bên c phát sinh mâu thu n về kinh tế d n đến cuộc sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Giữa nguyên đơn và bị đơn cũng thường xuyên xảy ra xung đột làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ dân xung quanh. Ch nh quyền địa phương đã nhiều lần đến gia đình bị đơn để hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Bên cạnh đ , Toà án đã tiến hành hòa giải và tạo điều kiện cho hai bên một thời gian để hàn gắn tình cảm, nhưng nguyên đơn kiên quyết ly hôn. Bị đơn không tham gia xét xử m c dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục luật định nhưng bị đơn vắng m t không c lý do nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng m t bị đơn theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, c cơ sở xác định bị đơn không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, thời gian từ năm 2017 đến nay, hai bên đã không còn sống chung, không còn mối quan hệ tình cảm gia đình, quan hệ kinh tế, d n đến mục đ ch hôn nhân không đạt đư c. Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù h p với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống c 03 người con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006; Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016. Nguyên đơn yêu cầu đư c chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006 và tự nguyện giao 02 con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012 và Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016 cho bị đơn chăm s c, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy hiện nay cháu Doãn Thị Tường V bị khuyết tật bẩm sinh đang sống cùng bà T và đư c bà T chăm s c nuôi dưỡng. Còn hai cháu Doãn Minh P và Doãn Minh Đ hiện đang sinh sống cùng với ông T, đư c ông T cho ăn học đầy đủ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý ở trẻ vị thành niên thì không cần thiết phải lấy ý kiến của những người con để thực hiện quyền giao con cho ai nuôi dưỡng, do đ tiếp tục giao con chung tên Doãn Minh P và Doãn Minh Đ cho bị đơn ông T chăm s c, nuôi dưỡng, giao cháu Doãn Thị Tường V cho bà T chăm s c, nuôi dưỡng là phù h p theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bản thân bà T đang làm công nhân cao su của Nông trường cao su C với mức lương hàng tháng 5.000.000 đ ng (năm triệu đ ng), ông T đang làm nghề cạo mủ cao su thuê cho người khác với thu nhập hàng tháng từ 7.000.000 đ ng (bảy triệu đ ng) đến 8.000.000 đ ng (tám triệu đ ng). Việc bà T và ông T không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên Hội đ ng xét xử ghi nhận ý kiến này.

Tài sản chung, n chung: Hai bên đương sự không tranh chấp nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Quan điểm về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là c căn cứ.

Về án ph hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kh a 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Đoàn Thị T đối với ông Doãn Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị T đư c ly hôn với ông Doãn Văn T.

2. Về con chung: Giao cho bà Đoàn Thị T trực tiếp chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Thị Tường V, sinh ngày 19/8/2006 và giao cho ông Doãn Văn T trực tiếp chăm s c, nuôi dưỡng con chung tên Doãn Minh P, sinh ngày 25/9/2012; Doãn Minh Đ, sinh ngày 03/4/2016. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T và ông T về việc không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên đư c quyền thăm nom, chăm s c, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con c quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai đư c cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở ho c gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm s c, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con c quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đ . Vì l i ch của con, Tòa án c thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi c đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung, n chung: Không tranh chấp nên không xem xét.

4. Án ph hôn nhân sơ thẩm: Bà Đoàn Thị T nộp 300.000 đ ng (ba trăm ngàn đ ng) và đư c khấu trừ 300.000 đ ng (ba trăm ngàn đ ng) tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0031552 ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn c m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2019).

Bị đơn vắng m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án ho c kể từ ngày bản án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ