vanban.org

Bản án 44/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị X.

Buộc ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Huỳnh Thị X số tiền 125.5000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Kể từ khi chị Huỳnh Thị X có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông G, bà T chậm trả khoản tiền trên cho bà X, thì ông G, bà T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hụi và vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/DS-ST
Ngày 09-10-2019
V/v tranh chấp hụi và vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Trung.

Bà Bùi Ngọc Dung.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1969, cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Hoàng G, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Cùng cư trú tại: ấp C, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 16/4/2019 nguyên đơn bà Huỳnh Thị X trình bày: Vào năm 2017 vợ chồng ông G va bà T có nhờ chị chơi dùm một chưng hụi, hụi khui được 02 lần thì ông G và bà T hốt, nhưng không đóng hụi chết lại. Hiện nay hụi đã mãn, sau khi hốt hụi vợ chồng ông G, bà T không thực hiện nghĩa vụ đối với việc chơi hụi, do đó chị phải đứng ra đóng hụi cho ông G bà T đến khi kết thúc hụi với số tiền là 100.000.000 đồng. Cũng trong thời gian từ tháng hai đến tháng tư năm 2017 chị cho vợ chồng ông G, bà T vay tổng cộng tám lần với số tiền 77.000.000 đồng. Trong tháng 4 năm 2017 chị còn cho ông G, bà T mượn 10 chỉ vàng 24k. Tổng cộng vợ chồng ông G, bà T thiếu chị là 177.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên sau đó vợ chồng ông G, bà T trả chị nhiều lần với tổng số tiền là 51.500.000 đồng. Như vậy sau khi đối trừ hiện nay vợ chông ông G, bà T còn thiếu chị là 125.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.

Nhiều lần chị đến nhà để yêu cầu vợ chồng ông G, bà T thanh toán tuy nhiên vợ chồng ông G, bà T hứa hẹn tuy nhiên không thực hiện. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển giải quyết buộc vợ chồng ông G, bà T có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị 125.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa: Chị X vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu vợ chồng ông G, bà T thanh toán cho chị 125.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Huỳnh Thị X khởi kiện ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T về tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông G, bà T cùng cư trú tại ấp C, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tuy nhiên ông G, bà T vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông G, bà T tại phiên tòa.

Về nội dung: Trong năm 2017 việc chị X có tham gia chơi hụi dùm và cho ông G, bà T vay tiền, cho mượn vàng là thực tế có xảy ra. Tuy nhiên sau khi hụi mãn ông G và bà T không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện việc hai bên có thực hiện các giao dịch liên quan đến việc chơi hụi, cho vay tiền và mượn vàng. Cụ thể để làm cơ sở cho nhau trong việc thanh toán nợ ông G, bà T đã thực hiện việc thế chấp tài sản để làm cở sở cho việc thanh toán nợ sau này. Mặc khác tại biên nhận giấy nợ ngày 29 tháng 5 năm 2017 do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung vợ chồng ông G, bà T còn nợ bà Xiếu số tiền 177.000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên ông G và bà T đã thanh toán nhiều lần cho chị X với số tiền 51.500.000 đồng do đó tại phiên tòa ngày hôm nay chị Huỳnh Thị X chỉ yêu cầu ông G, bà T thanh toán số tiền 125.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T đã được thông báo về việc thụ lý vụ án và đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông bà vẫn không có ý kiến phản hồi về yêu cầu thanh toán nợ của chị X. Từ những chứng cứ, nhận định nêu trên xét thấy có đủ cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Huỳnh Thị X, buộc ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho chị X số tiền 125.500.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.

Kể từ khi chị Huỳnh Thị X có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T chậm trả khoản tiền trên cho chị X thì ông G, bà T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông G, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm giá vàng tương ứng tại huyện Ngọc Hiển một chỉ vàng 24k = 4.100.000 đồng. Án phí ông G, bà T phải chịu ((10 x 4.100.000 đồng ) + 125.500.000 đồng) x 5% = 8.325.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị Xi đã dự nộp số tiền 4.037.000 đồng theo biên lai thu số 0005674 ngày 16/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, bà X được nhận lại.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hồ Hoàng G, bà Huỳnh Thị T tại phiên tòa.

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 466; Điều 471; Điều 496; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị X.

Buộc ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Huỳnh Thị X số tiền 125.5000.000 đồng và 10 chỉ vàng 24k.

Kể từ khi chị Huỳnh Thị X có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông G, bà T chậm trả khoản tiền trên cho bà X, thì ông G, bà T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Hồ Hoàng G và bà Nguyễn Thị T phải chịu 8.325.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị X đã dự nộp số tiền 4.037.000 đồng theo biên lai thu số 0005674 ngày 16/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, bà X được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ