vanban.org

Bản án 44/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch Gò Quao đối với bị đơn ông Trần Quốc Đ, bà Thị H.

Buộc ông Trần Quốc Đ, bà Thị H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C phòng giao dịch Gò Quao số tiền là 118.596.667đ (một trăm mười tám triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó vốn gốc là 89.900.000 đồng và lãi tính đến ngày 06/12/2019 là 28.696.667 đồng. Kể từ ngày ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng C - Thị H, Trần Quốc Đ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch Gò Quao đối với bị đơn ông Trần Quốc Đ, bà Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/DS-ST
Ngày: 06-12-2019.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Đào.

2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2019/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ: Tòa nhà CC5, bán đảo L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Triều Q, sinh năm 1980 - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Địa chỉ: Khu Phố P H 1, Thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Thị H - sinh năm 1967 (vắng mặt).

Ông Trần Quốc Đ - sinh năm 1966 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Th, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng C và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Triều Q trình bày: Vợ chồng ông Trần Quốc Đ và bà Thị H có đến Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang thỏa thuận vay số tiền 89.900.000 đồng theo 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay cụ thể:

Khế ước số 6000005800072861 ngày 08/10/2008, số tiền là 16.000.000 đồng, lãi suất 6%/năm, thời hạn vay là 48 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/9/2018, kỳ hạn trả nợ gốc là 06 tháng trả 01 lần, ngày bắt đầu trả nợ là 30/6/2011. Mục đích vay là chi phí học tập cho sinh viên. Lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay.

Khế ước số 6000005800072862 ngày 28/12/2010, số tiền là 20.900.000 đồng, lãi suất 7,2%/năm, thời hạn vay là 84 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/11/2018, kỳ hạn trả nợ gốc là 06 tháng trả 01 lần, ngày bắt đầu trả nợ là 17/8/2014. Mục đích vay là chi phí học tập cho sinh viên. Lãi suất nợ quá hạn là 9,36%/năm.

Khế ước số 6000005800083996 ngày 26/12/2013, số tiền là 33.000.000 đồng, lãi suất 0,65%/tháng, thời hạn vay là 84 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/6/2020, kỳ hạn trả nợ gốc là 06 tháng trả 01 lần, ngày bắt đầu trả nợ là 17/12/2017. Mục đích vay là chi phí học tập cho sinh viên. Lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay.

Khế ước số 6600000701379095 ngày 16/5/2014, số tiền là 20.000.000 đồng, lãi suất 0,78%/tháng, thời hạn vay là 48 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/5/2018, kỳ hạn trả nợ gốc là 12 tháng trả 01 lần, ngày bắt đầu trả nợ là 17/5/2015 và ngày trả cuối cùng là 17/5/2018. Mục đích vay là chăn nuôi heo, cá. Lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay.

Nay đã quá hạn trả nợ nhưng ông Đ, bà H vẫn chưa trả cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà H phải thanh toán số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 06/12/2019 là 118.596.667 đồng (trong đó vốn gốc là 89.900.000đ và lãi trong hạn là 27.284.429đ, lãi quá hạn là 1.412.238đ) và lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn là ông Trần Quốc Đ, bà Thị H thì trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đ, bà H nhiều lần nhưng ông bà vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận được bất kì ý kiến nào của ông Đ, bà H.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án cũng như các thủ tục hòa giải, thủ tục tố tụng tại phiên tòa là đúng theo qui định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng còn một số vi phạm như: Vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, đề nghị Tòa án khắc phục sau này.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Quốc Đ, bà Thị H phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 06/12/2019 là 118.596.667 đồng (trong đó vốn gốc là 89.900.000đ và lãi trong hạn là 27.284.429đ, lãi quá hạn là 1.412.238đ) và lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng C với ông Trần Quốc Đ, bà Thị H là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ông Trần Quốc Đ, bà Thị H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng ông, bà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy giao dịch giữa các đương sự là thỏa thuận vay tài sản. Do vậy, khi các bên xảy ra tranh chấp thì căn cứ vào các quy định về hợp đồng vay tài sản để giải quyết là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Trần Quốc Đ và bà Thị H, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà ông Trần Quốc Đ và bà Thị H tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo qui định của pháp luật. Đồng thời, yêu cầu ông Trần Quốc Đ và bà Thị H đến Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nhưng ông bà không đến Tòa án làm văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của ông Trần Quốc Đ và bà Thị H. Từ đó, cho thấy ông Trần Quốc Đ và bà Thị H đã biết được nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt ông Trần Quốc Đ và bà Thị H theo qui định của pháp luật.

Xét về 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và khế ước nhận nợ giữa các bên có quy định về lãi suất, thời hạn vay, phương thức thanh toán nợ gốc và lãi. Những quy định trong 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và khế ước nhận nợ không trái với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng ông Trần Quốc Đ và bà Thị H không thực hiện đúng cam kết theo 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng và khế ước nhận nợ cho đến nay, bên vay là ông Trần Quốc Đ và bà Thị H đã vi phạm về thời hạn trả nợ nên căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc ông Trần Quốc Đ và bà Thị H phải trả khoản nợ vay và lãi phát sinh cho ngân hàng là phù hợp. Đối với yêu cầu của Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao yêu cầu buộc ông Trần Quốc Đ và bà Thị H tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận của 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và khế ước nhận nợ đã ký kết là phù hợp với nội dung Án lệ số 08/2016Al của Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đồng thời, theo bảng kê tính lãi của Ngân hàng đến ngày xét xử là ngày 06/12/2019 thì ông Trần Quốc Đ và Thị H còn nợ tiền lãi là 28.696.667 đồng. Việc tính lãi của Ngân hàng là đúng thỏa thuận trong 04 giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800072861 ngày 08/10/2008, số 6000005800072862 ngày 28/12/2010, số 6000005800083996 ngày 26/12/2013 và 6600000701379095 ngày 16/5/2014 là phù hợp với qui định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, buộc ông Trần Quốc Đ và Thị H phải trả cho Ngân hàng tổng vốn gốc và lãi tính đến ngày xét xử ngày 06/12/2019 là 118.596.667đ (một trăm mười tám triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với bị đơn nên lời đề nghị này của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí DSST có giá ngạch: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Trần Quốc Đ, bà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 118.596.667 đồng x 5% = 5.929.833,35 đồng làm tròn là 5.930.000đ (năm triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 11, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch Gò Quao đối với bị đơn ông Trần Quốc Đ, bà Thị H.

Buộc ông Trần Quốc Đ, bà Thị H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C phòng giao dịch Gò Quao số tiền là 118.596.667đ (một trăm mười tám triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó vốn gốc là 89.900.000 đồng và lãi tính đến ngày 06/12/2019 là 28.696.667 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Trần Quốc Đ, bà Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong 04 khế ước vay vốn số 6000005800072861 ngày 08/10/2008, số 6000005800072862 ngày 28/12/2010, số 6000005800083996 ngày 26/12/2013 và 6600000701379095 ngày 16/5/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong khế ước vay vốn, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trần Quốc Đ và bà Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 5.930.000đ (năm triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) buộc ông Trần Quốc Đ và bà Thị H phải nộp.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 06/12/2019.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ