vanban.org

Bản án 44/2019/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 20/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ung Văn L, bà

Nguyễn Thị T; giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 53/2018/DS-ST ngày 14/11/2018 của T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Ông Ngọc D kiện ông Ung Văn L bà Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ung Văn L, bà
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/DS-PT
Ngày: 20/6/2019
V/v“Tranh chấp về nghĩa vụ dân sự”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa:Bà Đoàn Thị Thanh Thúy

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hồng Thái

Bà Lê Thị Thanh Thái

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa -Thẩm tra viên

của T a án nh n d n t nh B nh Thu n.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Ngô Thị Thu Thủy

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở T a án nh n d n t nh B nh Thu n t

phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2019/TLPT-DS ngày 05/01/2019 về việc:

“Tranh chấp về nghĩa vụ dân sự”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 53/2018/DS-ST ngày 14/11/2018 của T a án

nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t phúc thẩm số 68/2019/QĐ-PT ngày

12/4/2019; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 37/2019/QĐ-PT ngày

03/5/2019; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 42/2019/QĐ-PT ngày

04/6/2019 của T a án nh n d n t nh B nh Thu n, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc D, sinh năm 1962

Bị đơn: - Ông Ung Văn L, sinh năm 1964

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966

Cùng địa ch : Thôn 04, xã H, huyện Hàm Thu n Bắc, B nh Thu n.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T.

Tại phiên t a, có mặt ông D, ông Lvà bà T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 5 năm 2018, quá trình giải quyết vụ án

nguyên đơn ông Trần Ngọc D trình bày: Ông có đơn khởi kiện đến T a án giải quyết về việc ông L, bà T phải để cho ông được thực hiện việc tháo kẹp trên trụ điện và sơn trụ điện. Cụ thể, vào năm 2011 ông có làm giấy thỏa thu n và được sự đồng ý của ông L, bà T và một số hộ gia đ nh khác để thi công công tr nh đường d y trung thế. Sau đó ông tiến hành hợp đồng với Công ty trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng để thi công công tr nh. Khi điện lực huyện Hàm Thu n Bắc tiến hành nghiệm thu v không đảm bảo khoảng cách an toàn, nên chưa được nghiệm thu đưa vào v n hành để s dụng. Khi tiến hành s a n ng trụ để nghiệm thu trụ số 6, 7 th hộ ông L, bà T ngăn cản không cho làm. V v y vào năm 2015 ông khởi kiện đến T a án yêu cầu ông L, bà T và một số hộ gia đ nh về việc ngăn cản việc s a đường d y. Sau khi T a hai cấp t và khi cơ quan thi hành án đến thi hành bản án th ông L, bà T không cho ông tháo kẹp trên trụ số 5 để n ng trụ số 6, 7. Nay ông yêu cầu ông L, bà T không được ngăn cản để ông được tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn trên trụ số 5, số 6 thuộc đường d y trung thế trạm biến áp 75KVA tại thôn 4, xã H, huyện Hàm Thu n Bắc, t nh B nh Thu n.

Bị đơn ông Ung Tấn Ltrình bày: Ông đồng ý là trước đ y ông có đồng ý

cho ông D trồng trụ điện trên đất của gia đ nh ông với điều kiện để gia đ nh ông thắp sáng. Năm 2017 ông D khởi kiện yêu cầu gia đ nh ông không được ngăn cản việc n ng cao trụ số 6,7 để đảm bảo an toàn. Khi bản án có hiệu lực pháp lu t, cơ quan Thi hành án thi hành bản án nhưng bị vướng kẹp trên trụ số 5 nên không thi hành được. Nay ông D yêu cầu vợ chồng ông phải để cho ông D tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn trên trụ số 5 và 6 th ông không đồng ý, v việc hạ b nh của ông D không đúng quy cách. Nếu ông D muốn tháo kẹp th ông D phải hỗ trợ chi phí 20.000.000đ cho gia đ nh ông th gia đ nh ông mới đồng ý cho ông D tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn trên trụ số 5, 6 thuộc đường d y trung thế trạm biến áp 75KVA tại thôn 4, ã H, huyện Hàm Thu n Bắc, t nh B nh Thu n.

Tại bản khai cũng như trong quá tr nh giải quyết bị đơn bà Nguyễn Thị T

trình bày: Khi ông D trồng trụ điện th ch có ông L đồng ý, bà không đồng ý. Ông D khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà về việc ngăn cản tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn trên trụ số 5, 6 thuộc đường d y trung thế trạm biến áp 75KVA tại thôn 4, xã H, huyện Hàm Thu n Bắc, t nh B nh Thu n th bà không đồng ý. Nếu ông D muốn tháo kẹp th ông D phải hỗ trợ cho gia đ nh bà số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) c n nếu ông D ch nh s a trụ điện, khoảng cách d y điện theo đúng quy cách về kỹ thu t của điện lực th bà sẽ thống nhất cho ông D tháo kẹp trên trụ số 5, chứ không cần ông Dhỗ trợ g thêm.

Sau khi h a giải không thành; ngày 14/11/2018 T a án nh n d n huyện Hàm

Thu n Bắc đưa vụ án ra t tại Bản án số 53/2018/DS-ST đã Quyết định: Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ

lu t tố tụng d n sự 2015; Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 281 Bộ lu t d n sự

2015;Tuyên xử: 1/ Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc

D. Buộc ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải để cho ông Trần Ngọc

D thực hiện việc tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn hai trụ số 5, số 6 đường d y trung

thế - thuộc công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp 75KVA Trần Ngọc D,

địa điểm y dựng: thôn 04, ã Hồng Sơn, huyện Hàm Thu n Bắc. 2/Về án phí và

các chi phí tố tụng khác. Căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ lu t tố tụng D

sự; khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và s dụng án phí, lệ phí T a án; Điều 26 Lu t Thi hành án d n

sự. Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngh n

đồng) án phí d n sự sơ thẩm. Ông Trần Ngọc D không phải chịu án phí d n sự sơ

thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trần Ngọc D số tiền tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm đã

nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngh n đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số

0015208 ngày 16/05/2018 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Hàm Thu n

Bắc, t nh B nh Thu n. Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải chịu

1.750.000đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ngh n đồng) chi phí định giá tài sản

và em t tại chỗ để hoàn trả cho ông Trần Ngọc D đã nộp tạm ứng chi phí định

giá tài sản và em t tại chỗ tại T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc số tiền

1.750.000đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ngh n đồng). Ông Trần Ngọc D

không phải chịu chi phí em t tại chỗ và định giá tài sản. Ngoài ra bản án c n

tuyên quyền kháng cáo của các đương sự, quy định về ngh a vụ ch m thi hành án,

quyền yêu cầu thi hành án, ngh a vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án và quyền

kháng cáo theo quy định của pháp lu t.

Ngày 16/11/2018, bị đơn ông Ung Văn L và bà Nguyễn Thị T kháng cáo

toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị t a án cấp phúc thẩm s a bản án sơ thẩm, bác

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn không có kháng cáo.

Tại phiên t a phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có kháng cáo.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị t a án cấp phúc thẩm s a

bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn lý do ông D tháo kẹp

nhưng không đưa tiền nên không đồng ý, đường d y ông D đi trên 50mét là không

đảm bảo an toàn; yêu cầu ông D hỗ trợ 20 triệu đồng thì mới cho ông Dân tháo

kẹp ở trụ số 05 . Yêu cầu ông D trồng thêm 1 trụ ở giữa trụ số 5 và số 6 để đường

d y ở hai trụ này ngắn lại th gia đ nh tôi không nh n tiền từ ông D và đồng ý cho

ông D tháo kẹp ở trên trụ số 5.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh B nh Thu n phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng t phúc thẩm tiến hành đúng thủ tục tố tụng, người tham gia tố tụng chấp hành pháp lu t.

Về nội dung vụ án: Trước khi hạ đường d y trung thế th ông D đã thỏa

thu n với ông L và các hộ d n khác và các hộ d n này đều đồng ý để ông D thi công đường d y trung thế và trạm biến áp đi qua đất của họ nhằm để phục vụ thắp sáng thanh long, trong đó có hộ ông L. Ông L và bà T không có nhu cầu s dụng điện trên đường d y trung thế này nữa. Nay ông D tháo kẹp trên trụ số 5 nhưng ông L, bà T ngăn cản không cho ông D thực hiện việc tháo kẹp nối tại trụ số 5. Việc thi công không đúng quy cách và công tr nh không được nghiệm thu không phải do lỗi của ông D, nay ông D muốn n ng cấp theo yêu cầu của ngành điện lực là phù hợp. Đối với bà Nguyễn Thị T mặc dù trong giấy thỏa thu n bà không ký, không thỏa thu n trực tiếp với ông Trần Ngọc D để công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp đi qua đất của gia đ nh nhưng khi công trình thi công bà có biết nhưng không ngăn cản và gia đ nh bà T cũng đã s dụng điện trên đường d y này từ năm 2011 cho đến năm 2013, nay gia đ nh ông L, bà T không có nhu cầu s dụng nữa nên không cho ông D tháo kẹp để n ng cấp đường d y điện đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của điện lực t nh B nh Thu n để công tr nh được nghiệm thu đưa vào v n hành là không phù hợp. Tại t a án cấp phúc thẩm bị đơn không cung cấp chứng cứ nào mới nên kháng cáo của bị đơn không có căn cứ để chấp nh n; Bản án sơ thẩm là có căn cứ đúng pháp lu t. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng d n sự; Bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được em t tại phiên t a, kết quả tranh tụng

tại phiên t a và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng t nh n định:

Nguyên đơn ông Trần Ngọc D khởi kiện bị đơn ông Ung Văn L và bà

Nguyễn Thị T có địa ch nơi cư trú tại ã H, huyện Hàm Thu n Bắc, yêu cầu thực hiện ngh a vụ d n sự nên thuộc thẩm quyền thụ lý và t của T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc.

Hội đồng t nh n thấy: Năm 2011, nguyên đơn ông Trần Ngọc D thi

công công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp 75KVA Trần Ngọc D, địa điểm y dựng: Thôn 04, ã H, huyện Hàm Thu n Bắc, ông D làm giấy thỏa thu n với hộ ông Ung Văn L và một số hộ d n khác để đường d y trung thế đi qua đất của hộ ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T và một số hộ d n khác. Sau khi được gia đ nh ông L và các hộ d n khác đồng ý cho trồng trụ điện, cũng như cho đường d y điện đi ngang qua đất. Ông Trần Ngọc D đã ký kết hợp đồng với Công ty trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng để tiến hành thi công công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp 75KVA Trần Ngọc D tại thôn 04, ã H. Sau khi công tr nh thi công ong, do không đảm bảo khoảng cách an toàn theo quy định của ngành Điện lực, nên Điện lực Hàm Thu n Bắc chưa nghiệm thu cho v n hành.

Tại bản án d n sự sơ thẩm số 11/2017/DS-ST ngày 22/3/2017 của T a án

nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc và bản án d n sự phúc thẩm số 96/2017/DS-PT ngày 16/8/2017 của T a án nh n d n t nh B nh Thu n t buộc hộ ông Ung

Văn L cùng với các hộ d n khác phải để cho ông Trần Ngọc D thi công nâng

chiều cao của hai trụ điện số 6, số 7 và đường d y điện trung thế thuộc công tr nh

đường d y trung thế và trạm biến áp 75KVA Trần Ngọc D, địa điểm y dựng:

Thôn 4, xã H, huyện Hàm Thu n Bắc.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp lu t; Chi cục Thi hành án huyện Hàm

Thu n Bắc cùng các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương cùng phối hợp để thi

hành bản án nhằm đảm bảo khoảng cách an toàn theo yêu cầu của ngành Điện lực

th trên nhánh rẽ đường d y này (gồm d y pha và d y trung tính chưa đấu nối vào

lưới điện), d y trung tính tại trụ số 5 đang được đấu nối chung vào hệ thống điện

riêng của ông Ung Văn L từ năm 2011 ông L bà T s dụng thắp sáng thanh long,

đến năm 2013 th không s dụng, nay ông D tháo kẹp trên trụ số 5 th ông L, bà T

ngăn cản không cho ông D thực hiện việc thi công.

Ông L, bà T nại rằng việc hạ b nh trên của ông D không đúng quy cách,

nếu ông D muốn tháo kẹp th ông D phải hỗ trợ chi phí 20.000.000đồng cho gia

đ nh ông th gia đ nh ông mới đồng ý cho ông D tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn trên

trụ số 5, 6. X t thấy, lời khai nại này là không có cơ sở để chấp nh n, bởi theo

giấy thỏa thu n giữa các bên thể hiện tất cả đều đồng ý để công tr nh đường d y

trung thế và trạm biến áp của nguyên đơn đi ngang qua đất của m nh nhằm để

phục vụ thắp sáng thanh long, nay ông L bà T không có nhu cầu s dụng điện trên

đường d y trung thế này, nhưng không thực hiện việc tháo kẹp nối tại trụ số 5 là

không có cơ sở.

Ngoài ra, Công văn số 444/ĐLHTB-KHKT ngày 21/8/2018 của Điện lực

Hàm Thu n Bắc, ác định: “Công tr nh đường d y và trạm biến áp 75KVA -

12,7/0.23KV Trần Ngọc D đã thực hiện ong hồ sơ thiết kế của Công ty Điện lực

B nh Thu n vào tháng 02/2015. Công tr nh chưa được nghiệm thu đưa vào v n

hành. Do đó Điện lực Hàm Thu n Bắc chưa ký Hợp đồng mua bán điện. Việc thi

công s a chữa công tr nh cho đảm bảo khoảng cách an toàn do chủ đầu tư liên hệ

với đơn vị tư vấn thực hiện cho phù hợp. Khi công tr nh đảm bảo các điều kiện an

toàn đúng quy định. Điện lực Hàm Thu n Bắc sẽ nghiệm thu đưa vào v n hành”.

Công văn số 4288/PCBT-TTBVPC ngày 10/10/2018 của Công ty Điện lực

B nh Thu n, có nội dung: “Công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp

75KVA -12,7/0.23KV Trần Ngọc D; Địa ch : Thôn 4, ã H, huyện Hàm Thu n

Bắc đã được Công ty Điện lực B nh Thu n thiết kế vào tháng 02/2015. Đến nay,

Công tr nh này chưa được nghiệm thu đưa vào v n hành, do không đảm bảo

khoảng cách an toàn ở khoảng trụ giao ch o với đường dây trung thế của ông Ung

Văn L tại khoảng trụ số 6 và số 7....; Hiện nay, trên nhánh rẽ đường d y này (gồm

d y pha và d y trung tính chưa đấu nối vào lưới điện), d y trung tính tại trụ số 5 đang được đấu nối chung vào hệ thống điện riêng của ông Ung Văn L. Do đó, để bảo đảm cho việc đóng điện v n hành an toàn (sau khi đã n ng cấp khoảng giao ch o tại trụ số 6 và 7) th phải thực hiện việc tháo kẹp nối tại trụ số 5.....”.

Do đó, việc ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T ngăn cản không cho nguyên

đơn tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn hai trụ số 5 và số 6, đường d y trung thế đi ngang qua đất của m nh theo yêu cầu của ngành Điện lực là trái pháp lu t.

Tại phiên t a phúc thẩm ông D đồng ý hỗ trợ cho gia đ nh ông Ung Văn

L, bà Nguyễn Thị T số tiền 10.000.000đồng và yêu cầu ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T để ông được tháo kẹp trên trụ số 5, sơn trụ số 5, số 6 và n ng cấp trụ số 6 và số 7 để hệ thống điện hoàn ch nh và nghiệm thu toàn bộ công tr nh. Ông Ung Văn L, bà T không đồng ý với ý kiến của ông D mà yêu cầu ông D phải trồng thêm 1 trụ nằm giữa hai trụ số 5 và số 6 để đường d y điện được bảo đảm an toàn và đồng ý cho ông D tháo kẹp trên trụ số 5. X t thấy, ý kiến của ông D không được ông L và bà T đồng ý; đối với yêu cầu của bị đơn ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T tr nh bày tại phiên t a phúc thẩm là yêu cầu mới, chưa được tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết nên cấp phúc thẩm không em t. Trường hợp ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T có yêu cầu th được quyền khởi kiện thành vụ án khác theo quy định của pháp lu t.

Đối với bà Nguyễn Thị T mặc dù không thỏa thu n trực tiếp với ông Trần

Ngọc D để công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp đi qua đất, nhưng tại thời điểm ông Ung Văn L cùng các hộ d n khác làm giấy thỏa thu n với ông D thì bà cũng được biết và đồng ý cho đi, không hề ngăn cản. Điều này được thể hiện trong quá trình Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng tiến hành thi công công tr nh điện th bà T không có ý kiến hay khiếu nại g .

Tại phiên t a sơ và phúc thẩm, bà T cũng ác định gia đ nh bà đã s dụng

nguồn điện trên đường d y này từ năm 2011 cho đến năm 2013.

Do đó, T a án cấp sơ thẩm chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc

D là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp lu t.

Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào

khác ngoài các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp tại T a sơ thẩm để chứng minh cho các yêu cầu kháng cáo của m nh. Do đó, Hội đồng t bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nh n nên người kháng cáo

phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp lu t.

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ lu t Tố tụng d n sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ung Văn L, bà

Nguyễn Thị T; giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 53/2018/DS-ST ngày

14/11/2018 của T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc.

Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39 Bộ lu t tố tụng d n sự 2015; Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 281 Bộ

lu t d n sự 2015;

Tuyên xử:

1/ Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc D. Buộc

ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải để cho ông Trần Ngọc

D thực hiện việc tháo kẹp trên trụ số 5 và sơn hai trụ số 5, số 6 đường d y trung

thế - thuộc công tr nh đường d y trung thế và trạm biến áp 75KVA Trần Ngọc D;

địa điểm y dựng: thôn 04, ã H, huyện Hàm Thu n Bắc.

2/Về án phí và các chi phí tố tụng khác. Căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều

165 Bộ lu t tố tụng D n sự; khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí, lệ phí T a án;

Điều 26 Lu t Thi hành án d n sự.

Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngh n

đồng) án phí d n sự sơ thẩm.

Ông Trần Ngọc D không phải chịu án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho

ông Trần Ngọc D số tiền tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng

(Ba trăm ngh n đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0015208 ngày

16/5/2018 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Hàm Thu n Bắc, t nh B nh

Thu n.

Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.750.000đồng (Một triệu bảy

trăm năm mươi ngh n đồng) chi phí định giá tài sản và em t tại chỗ để hoàn trả

cho ông Trần Ngọc D đã nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và em t tại chỗ

tại T a án nh n d n huyện Hàm Thu n Bắc số tiền 1.750.000đồng (Một triệu bảy

trăm năm mươi ngh n đồng). Ông Trần Ngọc D không phải chịu chi phí xem xét

tại chỗ và định giá tài sản.

Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng án phí d n sự

phúc thẩm, nhưng được trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo

Biên lai thu tiền số 0023266 ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Chi cục thi hành án

d n sự huyện Hàm Thu n Bắc. Ông Ung Văn L, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền

án phí d n sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t

thi hành án D n sự th người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án D n

sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi

hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Lu t thi hành án

d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (20/6/2019).

Cỡ chữ