- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2018/HSST Ngày 10-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Thắng.
Ông Văn Công Trọn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Khái - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2018/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994 tại Cà Mau. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm 4, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/01/2018 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
Người bị hại:
Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1973 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có có mâu thuẫn giữa hai gia đình Nguyễn Thanh T và Nguyễn Chí N. Khoảng 20 giờ ngày 23.02.2016, T đang nhậu tại nhà ông S thì thấy N chạy xe ngang ghé nhà bà Nguyễn Thị L ở ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, lúc này T nảy sinh ý định chém N nên Tùng đi xuống nhà sau của ông S lấy 01 cây dao chạy đến đòi chém N được bà L và bà K can ngăn nên T không chém được. N về nhà nói lại với Nguyễn Văn A và Mai Thị H (cha và mẹ N) nội dung T đòi chém N, thì H và A, N đi tìm T, khi đi N đem theo 01 đoạn ống kim loại vuông (dùng để gạt hồ). Khi A và N đi một đoạn thì gặp T, giữa T và N cự cải với nhau, T chạy vào nhà ông G lấy cây dao chạy ra rượt chém N thì N ném ống kim loại lại bỏ chạy nhảy xuống sông và qua bên bờ bên kia sông. A lượm ống kim loại của N chạy theo T, T quay lại thấy A cầm ống kim loại nên cầm dao chém A, A lùi lại nên bị té ngồi, T chém liên tiếp 02 nhát vào người A, A đưa tay đở nên trúng vào mu bàn tay trái và cẳng tay trái, sau đó T bỏ cây dao và chạy vào nhà ông G. Ông A được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau. Tại cơ quan điều tra T thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 89/TgT ngày 25 tháng 3 năm 2016 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tật của Nguyễn Văn A: 01 vết sẹo 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái kích thước 1,5cm x 0,1cm tỷ lệ 1% ; 01 sẹo mặt mu bàn tay trái kích thước 5,5cm x 0.1cm tỷ lệ 8 %; gãy xương bàn ngón tay V tay trái tỷ lệ 6%; đứt gân dũi các ngón III, IV, V bàn tay trái đã khâu nối tỷ lệ 3%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 17%.
Thu giữ ngày 23.02.2016: 01 cây dao cán bằng gỗ, mũi nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 55 cm, 01 ống kim loại màu trắng vuông kích thước 1,4 cm x 1,4 cm dài 01m.
Nguyễn Văn A điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau từ ngày 23/02/2016 đến ngày 03/03/2016 ra viện, chi phí điều trị và các khoản chi phí khác của ông A, gia đình bị cáo và ông A đã thỏa thuận bồi thường xong, ông A có đơn xin bãi nại cho bị cáo, ông A không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa ông A yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo.
Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Từ những nội dung trên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trên và áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt đối với Nguyễn Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về tang vật tịch thu và tiêu hủy: 01 cây dao cán bằng gỗ, mũi nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 55 cm, 01 ống kim loại màu trắng vuông kích thước 1,4 cm x 1,4 cm dài 01 m.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 23.2.2016 tại phần đất nhà bà Nguyễn Thị L ở ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Do có mâu thuẫn giữa gia đình Nguyễn Thanh T và gia đình Nguyễn Chí N, nên T đã dùng dao rượt chém N không được, lúc này có A là cha của N chạy theo trên tay của A có cầm ống kim loại nên T nghĩ A sẽ đánh T, nên T dùng dao chém A, A lùi về phía sau bị té tư thế ngồi T dùng dao chém nhiều cái A đưa tay đỡ nên trúng vào tay.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 89/TgT ngày 25 tháng 03 năm 2016 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tật của Nguyễn Văn A tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 17%.
Việc phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, trước, trong sau khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi của bị cáo gây ra.
Từ nội dung trên xét thấy bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Xét về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo thực hiện việc phạm tội nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, bị cáo cũng biết được sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng do bản tính hung hăng xem thường pháp luật, muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên bị cáo đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm chém vào người của người bị hại Nguyễn Văn A nhiều nhát, gây tỷ lệ thương tật là 17%, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi của bị cáo gây ra.
Xét về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, thật thà khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường tiền thuốc và các khoản chi phí khác cho người bị hại xong, trong hồ sơ người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo và tại phiên tòa người bị hại yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm 01 phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên sau khi gây án chưa thật sự hối cải, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 04.01.2018 mới bắt theo lệnh truy nã, Việc bỏ trốn gây khó khăn, làm cản trở việc điều tra cũng như truy tố và xét xử, nên khi quyết định hình phạt cũng cân nhắc đến tình tiết này.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các điều luật và mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Xét về tang vật trong vụ án: 01 cây dao cán bằng gỗ, mũi nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 55 cm, 01 ống kim loại màu trắng vuông kích thước 1,4 cm x 1,4 cm dài 01 m, xét thấy không còn tính năng sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm hình sự : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 04/01/2018.
2. Về tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tịch thu và tiêu hủy 01 cây dao cán bằng gỗ, mũi nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 55 cm, 01 ống kim loại màu trắng vuông kích thước 1,4 cm x 1,4 cm dài 01 m (các tang vật hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang quản lý)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau. - Bị cáo; - VKSND huyện T; - CQĐT Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Nhà tạm giữ Công an huyện T; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Từ Thanh Nhung |