vanban.org

Bản án 44/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Dương Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm b, h, l, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 33, điều 51 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt: bị cáo Dương Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt bị cáo Dương Thị H chưa chấp hành của bản án số 87/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Dương Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HÒA BÌNH
Số: 44/2018/HSST
Ngày 21/11/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu

Bà Hoàng Thị Tám

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tân Hòa- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Thị H, Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 27/7/1990. HKTT: xóm S, xã Tr, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12. Bố Dương Khắc Nh (đã chết); Mẹ: Lê Thị D, sinh năm 1969. Bị can là con duy nhất trong gia đình. Chồng: Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018.

* Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 87/2017/HSST ngày 28/12/2017 Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Dương Thị H 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/8/2018, Bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 08/8/2018. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Ông Vũ Văn Th, SN: 1967, có mặt

Trú tại: xóm S, xã H, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/11/2017 Dương Thị H, sinh năm 1990 trú tại: Xóm S, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh có đến nhà bạn là chị Nguyễn Thị H (do ông Vũ Văn Th là chủ hộ) tại xóm S, xã H, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình chơi. H ngủ lại nhà chị H, khoảng 11 giờ ngày 10/11/2017, quan sát thấy nhà chị H không có ai ở nhà, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi vào phòng ngủ, mở cánh tủ gỗ không khóa thấy 01 con lợn tiết kiệm bằng sứ màu vàng, H dùng tay cậy đít con lợn lấy được số tiền 4.400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 08 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Sau đó H tiếp tục đi ra phòng khách lấy chìa khóa để ở cạnh tủ đựng ti vi, mở ngăn tủ bên phải tìm ở túi áo vest nữ màu đen phía trước bên trái số tiền 11.000.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), sau khi lấy tiền xong H khóa tủ lại và đặt chìa khóa về vị trí cũ. H tiếp tục mở cánh tủ bên phải (tủ ngang, đặt dưới bàn thờ) lấy 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Toàn bộ số tiền lấy trộm được H cho vào túi xách của mình, sau đó H đi nấu cơm cho mọi người trong gia đình chị H ăn. Khi ăn cơm xong khoảng 12 giờ, H đi về nhà ở Quảng Ninh. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày gia đình chị H đi làm về, phát hiện bị mất tổng số tiền 15.900.000 đồng. Gia đình chị H đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an để giải quyết.

Ngày 12/11/2017 Dương Thị H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn đầu thú. Thời điểm phạm tội Dương Thị H đang có thai 22 tuần tuổi.

Dương Thị H đã trả lại cho gia đình chị H số tiền 5.000.000 đồng, còn lại số tiền 10.900.000 đồng H đã chi tiêu cá nhân hết, hiện chưa trả lại cho bị hại.

Tài sản bị trộm cắp trên là tài sản chung của cả gia đình chị H. Gia đình chị H cử ông Vũ Văn T là chủ hộ tham gia giải quyết vụ việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn trong quá trình điều tra đã ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02 ngày 23/11/2017 đối với Dương Thị H. Trong thời gian chờ xử lý, ngày 02/12/2017, Dương Thị H tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 8.700.000 đồng của chị Ngô Thị Ngọc A, SN: 1993, trú tại: Tổ 5, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đã bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử, xử phạt bị cáo 6 tháng tù. Sau đó, Dương Thị H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 02/4/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn ra Quyết định truy nã. H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ bắt truy nã khi đang lẩn trốn tại phường Đa Phúc, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đề nghị Dương Thị H trả tiếp số tiền 10.900.000 đồng đã trộm cắp.

Cáo trạng số 46/CT-VKSLS ngày 30/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Dương Thị H về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong nội dung bản cáo trạng, khẳng định lời khai trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều tự nguyện, không bị ép cung, mớm cung hoặc bị nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Thị H phạm tội: Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, điểm b, n, s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 38 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Thị H mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng điều 56 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của bản án số 87/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với Dương Thị H về tội Trộm cắp tài sản, buộc Dương Thị H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự 2015; buộc Dương Thị H trả lại cho gia đình bị hại ông Vũ Văn Th số tiền 10.900.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Các tài liệu chứng cứ đó là: Biên bản về nguồn tố giác tội phạm, đơn đầu thú, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 10/11/2017 Dương Thị H, SN: 1990, HKTT: xóm S, xã Tr, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh có hành vi trộm cắp số tiền 15.900.000 đồng của gia đình ông Vũ Văn Th, HKTT: xóm S, xã H, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau khi bị phát hiện, H đã đến cơ quan công an đầu thú, khắc phục hậu quả trả lại cho bị hại số tiền 5.000.000đồng. Hành vi của Dương Thị H phạm vào tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo H tuổi đời còn trẻ, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được việc lấy tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do ham chơi, lười lao động nên thực hiện hành vi phạm tội. Khi Dương Thị H tại ngoại, chờ xử lý hành vi trộm cắp tài sản tại Công an huyện Lương sơn thì ngày 02/12/2017, tại khu vực chợ Mạo Khê thuộc khu Hoàng Hoa Thám, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Dương Thị H tiếp tục có hành vi trộm cắp số tiền 8.700.000 đồng của chị Ngô Thị Ngọc A, SN: 1993, trú tại: Tổ 5, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Bản án số 87/2017/HSST ngày 28/12/2017 Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Dương Thị H 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hành vi trên thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, có nhân thân xấu. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, khi phạm tội bị cáo có thai, sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, l, p khoản 1 khoản 2 điều 46 bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bị mất số tiền 15.900.000đồng, bị cáo H đã khắc phục trả cho gia đình bị hại 5.000.000đồng. Nay, bị hại ông Vũ Văn Th yêu cầu bị cáo phải hoàn trả tiếp cho gia đình ông số tiền là 10.900.000đồng, ngoài ra ông không yêu cầu khoản tiền nào khác. Vì vậy, buộc bị cáo Dương Thị H phải hoàn trả tiếp cho gia đình bị hại, ông Vũ Văn Th số tiền 10.900.000đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định theo điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Dương Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm b, h, l, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 33, điều 51 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt: bị cáo Dương Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt bị cáo Dương Thị H chưa chấp hành của bản án số 87/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Dương Thị H 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Buộc bị cáo Dương Thị H phải chấp hành tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ 01 (một) ngày tạm giữ.

3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự 2015; buộc bị cáo Dương Thị H trả lại cho ông Vũ Văn Th số tiền 10.900.000 (mười triệu chín trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của bộ luật dân sự năm 2015.

2.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

4.Về án phí: áp dụng điều 135, 136 bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Thị H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 545.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ