vanban.org

Bản án 44/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 19/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!C!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
THỊ!XÃ!GIA!NGHĨA!
TỈNH!ĐẮK!NÔNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2018/HS-ST
Ngày 19 - 9 - 2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THỊ!XÃ!GIA!NGHĨA,!TỈNH!ĐẮK!NÔNG!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Phan Văn Lương

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Nguyễn Trọng Sơn và ông Hoàng Công Hội

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Diệu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thống - Kiểm sát viên.!

Ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1.!Hoàng!K,!sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Xóm 8, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: 6/1 khu phố D, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng V và bà Hoàng Thị H; có vợ là Võ Thị N; có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2018 đến ngày 05/6/2018, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

2.!Lê!Xuân!T,!sinh năm 1975 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Xóm 8, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: 6/1 khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ và bà Hoàng Thị L; có vợ là Đinh Thị ; có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; hiện đang tại ngoại - Có mặt.

3. Đào!Minh!H,!sinh năm 1999 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Xóm 4, xã D, huyện D, tỉnh N; nơi cư trú: 6/1 khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân N và bà Phan Thị T; chưa có vợ; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2018 đến ngày 05/6/2018, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

-"Bị"hại:"Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X; Địa chỉ: 22 Lô 3, khu phố B, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương;

1

Người đại diện theo pháp luật: Anh Cao Đăng B, sinh năm 1974 - Chức vụ: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X;

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đoàn Văn K, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số 22, lô 3, khu phố B, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương"- Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"đến"vụ"án:"

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khối 1, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Chị Đinh Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/5/2018, anh Đoàn Văn K và anh Hà Ngọc S"là tài xế và nhân viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X, kinh doanh trang thiết bị nội thất nhà tắm - vệ sinh tại phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương điều khiển xe ô tô BKS 61L – 9320 chở thiết bị của Công ty đi giao hàng cho các đại lý tại thị xã G. Khoảng 20 giờ cùng ngày anh K và anh S thuê nhà nghỉ Hồng Phúc thuộc tổ 10, phường N, thị xã G để ngủ; xe ô tô để ngoài sân, cửa thùng xe không có khóa.

Thời điểm này có Hoàng K, Lê Xuân T và Đào Minh H"là lái xe và nhân viên của cửa hàng Lê Xuân T, kinh doanh trang thiết bị nội thất nhà tắm - vệ sinh tại thị xã T, tỉnh Bình Dương cũng đi đến thuê nhà nghỉ Hồng Phúc để ngủ.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/5/2018 K, T và H trả phòng nhà nghỉ để đi giao hàng. Khi đi ra xe thì cả ba bị cáo nhìn thấy xe ô tô biển kiểm soát 61L- 9320 đậu phía sau xe của mình. Thấy vậy, K nói với T và H:“Xe"X,"ra"coi" còn"nhiều"hàng"không”"(do"cùng"là"nhân"viên"đi"giao"hàng"trên"địa"bàn"thị"xã" G," nên"khi" nhìn" thấy"xe"ô" tô"trên"thì" các"bị"cáo"biết"đó"là" xe"của"Công" ty"X), mục đích là trộm cắp tài sản, rồi lúc này H lên ca bin xe biển kiểm soát 48C - 021.30 ngồi trước, còn K và T đi ra phía sau thùng xe ô tô. Quan sát không có ai xung quanh, K mở cửa thùng xe và trèo lên lấy trộm tài sản đựng trong 02 hộp giấy và 02 túi nilon đưa cho T, T đem 02 hộp giấy đưa cho H cầm cất giấu dưới chân. T tiếp tục đưa 02 túi nilon đựng tài sản trộm cắp lên cabin xe và ngồi cạnh H, rồi cả ba bị cáo đi giao hàng.

Trên đường đi H và T mở toàn bộ tài sản vừa trộm được gồm có: 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126, 05 bộ phụ kiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031 và 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511. Đối với 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh và 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh cả ba bị cáo đã bán cho chị Đinh Thị L tại xã T, huyện Đ được 1.400.000 đồng; còn 10 bộ bấm tiểu, 05 bộ phụ kiện cầu khối cả ba bị cáo bán cho anh Nguyễn Văn T tại thị trấn K, huyện Đ được 900.000 đồng. Số tiền bán được, K và T chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng, chia cho H 200.000 đồng; còn 100.000 đồng cả ba dùng để ăn uống chung. Sau đó, hành vi phạm tội của K, T và H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa phát hiện bắt giữ.

Việc!thu!giữ,!tạm!giữ!tài!liệu,!đồ!vật:!

2

10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126;

05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ);

01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031;

01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511.

Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2.300.000 đồng."

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/BB-HĐĐG ngày 4/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thị xã Gia Nghĩa kết luận: 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126, 05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031, 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511 có trị giá là 4.400.000 đồng.

Xử!lý!vật!chứng:

Ngày 03/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 752 trả lại toàn bộ tài sản gồm: 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda

- SD126, 05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031, 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511 cho anh Đoàn Văn K là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.300.000 đồng do phạm tội mà có.

!Phần!dân!sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh K không có yêu cầu gì.

Trong vụ án này anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị L là những người mua số tài sản nêu trên của Hoàng K cùng đồng phạm, sau khi tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Gia Nghĩa. Anh T, chị L không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa đã truy tố các bị cáo Hoàng K, Lê Xuân T, Đào Minh H về tội “Trộm"cắp"tài"sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Trộm"cắp"tài"sản”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng K từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng; xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng; xử phạt bị cáo Đào Minh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

3

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại; xử lý vật chứng đề nghị xử lý như bản cáo trạng; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.300.000 đồng do phạm tội mà có.

Đối với anh Nguyễn Văn T và chị Đinh Thị L là những người mua số tài sản nêu trên của Hoàng K cùng đồng phạm, sau khi tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa. Anh T, chị L không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn nên không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa các bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/5/2018, tại nhà nghỉ Hồng Phúc thuộc tổ 10, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, Hoàng K, Lê Xuân T và Đào Minh H đã có hình vi lén lút chiếm đoạt được 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126, 05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031, 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511 trên xe ô tô biển kiểm soát 61L - 9320 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.400.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản!1!Điều!173!của!Bộ!luật!Hình!sự!quy!định:!

“1."Người"nào"trộm"cắp"tài"sản"của"người"khác"trị"giá"từ"2.000.000"đồng"đến" dưới"50.000.000"đồng"hoặc"dưới"2.000.000"đồng"nhưng"thuộc"một"trong"các"trường" hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"cải"tạo"không"giam"giữ"đến"03"năm"hoặc"phạt"tù"từ"06"tháng" đến"03"năm”."

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.

4

Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo Hoàng K là người đã chủ động khởi xướng việc phạm tội, bị cáo Lê Xuân T trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị cáo H đã biết, cùng tiếp nhận ý chí của các bị cáo khác và đưa các tài sản trộm cắp đi tiêu thụ. Do đó, cần xử phạt bị cáo K mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

[4] Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại và có đơn đề nghị của bị hại xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo K và H; đối với bị cáo K, T có con còn nhỏ, các bị cáo đều là lao động chính của gia đình. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo K, T và H, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Giao các bị cáo về cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục người phạm tội.

[5] Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[6] Đối với anh Nguyễn Văn T, chị Đinh Thị L là những người mua lại một số tài sản bị trộm cắp nêu trên nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, đã tự nguyện giao nộp tài sản cho Cơ quan điều tra nên không đề cập xử lý hình sự đối với anh T, chị L là phù hợp.

[7] Việc bồi thường thiệt hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với số tiền 2.300.000 đồng mà anh Nguyễn Văn T, chị Đinh Thị L đã bỏ ra để mua lại một số tài sản bị trộm cắp của các bị cáo, quá trình giải quyết anh T và chị L đều có đơn không yêu cầu các bị cáo phải bồi hoàn số tiền này nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận ngày 03/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 752 trả lại toàn bộ tài sản gồm: 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126, 05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031, 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511 cho anh Đoàn Văn K là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại Xuân Xuân Sáu.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.300.000 đồng do phạm tội mà có.

[9] Về án phí: Các bị cáo Hoàng K, Lê Xuân T, Đào Minh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5

[10] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

"Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên!bố:!Các bị cáo Hoàng K, Lê Xuân T, Đào Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng K 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/9/2018).

- Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/9/2018).

- Xử phạt bị cáo Đào Minh H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19 /9/2018).

Giao các bị cáo Hoàng K, Lê Xuân T, Đào Minh H cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.!Việc!bồi!thường!thiệt!hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với số tiền 2.300.000 đồng mà anh Nguyễn Văn T, chị Đinh Thị L đã bỏ ra để mua lại một số tài sản bị trộm cắp của các bị cáo, quá trình giải quyết anh T và chị L đều có đơn không yêu cầu các bị cáo phải bồi hoàn số tiền này nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

3.!Việc!xử!lý!vật!chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận ngày 03/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa ra Quyết định xử lý vật chứng số 752 trả lại toàn bộ tài sản gồm: 10 bộ bấm tiểu nhãn hiệu Senda - SD126, 05 bộ phụ hiện cầu khối có tem nhãn hiệu Hùng Anh (loại xả hai chế độ), 01 bộ vòi rửa chén nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VSD7031, 01 bộ vòi sen tắm nóng lạnh nhãn hiệu Viglacera - VG511 (có"đặc"điểm"như"các"biên" bản"tạm"giữ"đồ"vật,"tài"liệu"ngày"30/5/2018) cho anh Đoàn Văn K là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại X.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/8/2018 của Công an thị xã Gia Nghĩa tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Đắk Nông).

6

4.!Về!án!phí!hình!sự!sơ!thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Hoàng K, Lê Xuân T, Đào Minh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai"trăm"nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.!Về!quyền!kháng!cáo:!Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ