vanban.org

Bản án 44/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 23/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Phạm Ngọc L 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2018. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:44/2018/HS-ST
Ngày: 23-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Thùy.

Ông Nguyễn Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc L - Sinh ngày 03/4/1994 tại xã A, huyện B, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 3, xã A, huyện B, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Phương và bà Bùi Thị Mong; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2018, đến ngày 16/5/2018 chuyển tạm giam; “có mặt”.

- Bị hại: Trung tâm viễn thông huyện Xuân Trường; Đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Xuân Toàn - Giám đốc Trung tâm; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Cương - Tổ trưởng Tổ kỹ thuật Trung tâm; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 07/5/2018, Phạm Ngọc L mang theo 01 con dao mác và 01 vỏ bao tải đến đoạn đường gần nghĩa trang nhân dân xóm 3, xã A với mục đích cắt trộm cáp viễn thông. Quan sát thấy không có người đi lại, L dắt dao vào người rồi trèo lên cột đỡ cáp viễn thông cao khoảng 04 mét ở cạnh đường, lên đến khu vực có dây cáp, L lấy dao chặt đứt phần cáp và dùng dao tách cáp ra khỏi dây gia cường, sau đó xuống đường tiếp tục kéo cáp ra khỏi dây gia cường được 40 mét cáp loại 50 đôi kê lên đường bê tông chặt thành từng đoạn dài khoảng 1,2 mét cho vào bao tải. Với cách thức và thủ đoạn như trên L cắt tiếp được 30 mét cáp loại 50 đôi nữa ở cột tiếp theo, chặt thành đoạn cho vào bao. Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày, khi L đang cho số cáp còn lại vào bao thì bị tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phối hợp với Công an xã A phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bao tải và 70 mét cáp viễn thông lõi đồng loại 50 đôi (bị cáo đã vứt chiếc dao đi trước khi bị bắt, không thu giữ được).

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 08/KL-HĐĐG ngày 10/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường đã kết luận: 70 mét dây cáp viễn thông lõi đồng loại 50 đôi tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 5.670.000 đồng.

Đại diện Trung tâm Viễn thông huyện Xuân Trường xác định thiệt hại cần khắc phục do việc Phạm Ngọc L cắt dây cáp viễn thông là không đáng kể, Trung tâm đã nhận lại 70m dây cáp và tự khắc phục hậu quả. Vì vậy, Trung tâm không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 02/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Phạm Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thừa nhận tính đúng đắn, khách quan của các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và khai nhận toàn bộ hành vi đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; tịch thu tiêu hủy chiếc bao bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Bị cáo không tự bào chữa và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc kết tội: Hành vi của bị cáo như đã khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/5/2018, tại Xóm 3, xã A, huyện B, tỉnh Nam Định, bị cáo Phạm Ngọc L đã lén lút chiếm đoạt 70m cáp viễn thông trị giá 5.670.000 đồng của Trung tâm viễn thông huyện Xuân Trường. Việc bị cáo cắt 70m cáp viễn thông thành nhiều đoạn đã gây thiệt hại cho Trung tâm viễn thông trong việc khắc phục; Tuy nhiên, Trung tâm xác định thiệt hại là không đáng kể nên không cần xem xét. Như vậy, hành vi của bị cáo đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, cản trở liên lạc của một bộ phận dân cư, gây tâm lý hoang mang, bất an trong quần chúng, nhân dân tại địa phương. Tính nguy hiểm của hành vi của bị cáo còn thể hiện ở chỗ, bị cáo có sự chuẩn bị, tính toán cụ thể, thực hiện hành vi một cách táo bạo, nếu không bị phát hiện ngăn chặn thì có thể gây ra nhiều thiệt hại khác.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Ngọc L không phải có tình tiết tăng nặng nào; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, hối lỗi về việc làm của mình. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích trên, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nhưng dưới mức thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo, đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do Phạm Ngọc L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung như quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trung tâm viễn thông huyện Xuân Trường đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra là không đáng kể. Nay Trung tâm viễn thông huyện Xuân Trường không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không cần xem xét, điều chỉnh.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: 01 vỏ bao bị cáo dùng phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc L bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố Phạm Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Phạm Ngọc L 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2018.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao (Chi tiết được miên tả theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 52/CCTHA ngày 17/8/2018 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc L và bị hại Trung tâm viễn thông huyện Xuân Trường có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ