- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2018/HS-ST Ngày 30/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG – TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân
2. Ông Trần Khắc Viện
- Thưkýphiêntoà: ÔngHoàng Thế Anh - Thư ký Tòa án nhândânhuyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Tất Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2018/TLST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Phùng Văn N, sinh ngày 09/01/1975 tại huyện SD, tỉnh TQ; Trú tại: Thôn K, xã KN, huyện SD, tỉnh TQ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phùng Văn Q (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1954; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 02/HSST ngày 06/3/1996 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Phùng Văn N 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Phùng Văn N thi hành xong toàn bộ bản án ngày 15/8/2006.
Bản án số 129/1998/HSST ngày 11/7/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phùng Văn N 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 2.000.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Phùng Văn N thi hành xong toàn bộ bản án ngày 11/7/2006.
Bản án số 43/2008/HSST ngày 28/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Phùng Văn N 07 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tịch thu số tiền 150.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Phùng Văn N chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/7/2014, chấp hành xong phần dân sự của bản án ngày 11/6/2008.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
* Người bị hại: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1959, trú tại: Thôn Kh, xã KN, huyện SD, tỉnh TQ (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 20/5/2018 Phùng Văn N đi bộ từ nhà mình đến nhà bà Hoàng Thị M, sinh năm 1959 (trú cùng thôn), đến nơi N quan sát thấy nhà bà M không có ai, cửa ngoài nhà đóng và khóa, cửa sau nhà không khóa, lúc này N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của nhà bà M đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. N chui qua bờ rào và đi vào nhà bà M bằng cửa sau thì thấy có 01 ti vi nhãn hiệu SAMSUNG LCD 32 inch, màn hình phẳng, N đã trộm cắp chiếc ti vi trên và mang cất giấu ở bụi cây cách nhà bà M khoảng 60 mét, sau đó đi về nhà.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, N đi bộ đến khu vực cất giấu chiếc ti vi, mục đích mang đi tiêu thụ, khi N mang chiếc ti vi đi được khoảng 30 mét, thì thấy Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1982 (trú cùng thôn) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel hi, BKS 88S8 – 7346 đi qua, N nhờ C chở N ra khu vực thị trấn SD (C không biết chiếc ti vi là do N trộm cắp mà có), C đồng ý. Khi C và N đi đến khu vực tổ dân phố TT, thị trấn SD, huyện SD thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Sơn Dương kiểm tra phát hiện và thu giữ tang vật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 22/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sơn Dương. Kết luận chiếc tivi nhãn hiệu Samsung LCD 32inch, màn hình phẳng mầu đen tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 4.320.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSSD, ngày 06/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện SD truy tố: Phùng Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phùng Văn N theo tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phùng Văn N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Phùng Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản xác minh hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 20/5/2018 tại gia đình bà Hoàng Thị M ở thôn K, xã KN, huyện SD, Phùng Văn N đã có hành vi trộm cắp 01 ti vi nhãn hiệu Samsung LCD 32inch, màn hình phẳng màu đen trị giá 4.320.000 đồng (Bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) của bà Hoàng Thị M.
Hành vi của bị cáo Phùng Văn N đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Với mục đích vụ lợi bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, nhân thân bị cáo xấu đã 03 lần bị xét xử: Bản án số 02/HSST ngày 06/3/1996 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Phùng Văn N 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 129/1998/HSST ngày 11/7/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phùng Văn N 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 43/2008/HSST ngày 28/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Phùng Văn N 07 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Sơn Dương là phù hợp nên chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Xét bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hoàng Thị M đã nhận lại chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung LCD 32inch, màn hình phẳng mầu đen, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel hi, BKS 88S8 – 7346, ngày 19/6/2018 đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Mạnh C; 01 ti vi nhãn hiệu Samsung LCD 32inch, màn hình phẳng mầu đen, ngày 05/6/2018 đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Hoàng Thị M nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Mạnh C là người chở Phùng Văn N đi tiêu thụ chiếc ti vi nhưng Cần không biết đó là tài sản do N trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
II. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
III. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Phùng Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện SD; - Công an huyện SD; - TAND tỉnh TQ; - Trại tạm giam CA tỉnh TQ; - Chi cục T.H.A DS huyện SD; - UBND xã KN; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Tuấn Linh |