vanban.org

Bản án 44/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt Nguyễn Khắc Th 06 Thg tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 Thg tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc Thán phạm tội trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G- TỈNH BẮC NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2018/ HS-ST
Ngày 19/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh D, ông Hoàng Công H

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị M N, thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tập- Kiểm sát viên.

Ngày 19 Thg 11 năm 2018 tại hội trường thôn S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện G, tình Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2018/TLST-HS ngày 23 Thg 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45 /2018 /QĐXXST-HS ngày 02 Thg 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc Th, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Th, xã Th1, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc P đã chết và bà Trần Thị B sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; không tiền án, 02 tiền sự; bị cáo bị tạm giữ tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh từ ngày 02/8/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1970, trú tại: thôn V, xã Th1, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khắc Th là đối tượng có 01 tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 15 giờ ngày 19/07/2018, tại vườn chuối của anh Nguyễn Đức M ở thôn Ch, xã V, huyện G, khi Th có hành vi trộm cắp của anh M 03 buồng chuối loại chuối tây, quả đã già, vỏ màu xanh có trị giá 338.200 đồng thì bị lực lượng Công an huyện G, phối hợp công an xã V và một số người dân bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Quá trình điều tra Th được cho tại ngoại về địa phương. Sau khi tại ngoại về địa phương, do bản thân nghiện chất ma túy nên hồi 19 giờ 30 phút ngày 02/08/2018 tại khu vực dốc đê thuộc thôn Th, xã Th1, huyện G, khi Th đi mua và tàng trữ 01 (một) gói ma túy có khối lượng 0,1409 gam, loại ma túy: Heroine thì tiếp tục bị tổ công tác Công an huyện G phối hợp Công an xã Th1 phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng

Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 28/7/2018 của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự công an huyện G kết luận: “Tổng giá trị 03 (Ba) buồng chuối, giống chuối tây, toàn bộ quả đã già, vỏ màu xanh là 338.200 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 883 ngày 03/08/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,1409 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine.

Cáo trạng số 43/CT - VKS - GB ngày 22/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 Thg tù về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 Thg tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng Điều 55 bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 2 tội, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung từ 18 đến 26 Thg từ

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

Trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật

Sau khi nghe bản cáo trạng và bản luận tội, bị cáo nhận tội và thừa nhận hành vi như quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và vật chứng thu được trong vụ án có đủ cơ sở kết luận:

- Khoảng 15 giờ ngày 19/07/2018, tại vườn chuối của anh Nguyễn Đức M ở thôn Ch, xã V, huyện G, Th có hành vi trộm cắp của anh M 03 buồng chuối loại chuối tây, quả đã già, vỏ màu xanh có trị giá 338.200đ.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Hồi 19 giờ 30 phút ngày 02/08/2018 tại khu vực dốc đê thuộc thôn Th, xã Th1, huyện G, Th đi mua và tàng trữ 01 (một) gói ma túy có khối lượng 0,1409 gam, loại ma túy: Heroine.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này dù giá trị tài sản bị cáo lấy trộm chỉ là 338.200đ bị cáo vẫn bị truy tố về tội trộm cắp tài sản.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên đã phạm tội.

Do vậy cần có hình phạt tương xứng với 2 hành vi phạm tội của bị cáo mới tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo ăn năn hối cải và cai nghiện.

Xét thấy sau khi phạm tội bị cáo, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo mắc nghiện ma túy nhiều năm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS 90B1- 058.86 là xe bị cáo sử dụng để đi trộm cắp chuối ngày 19/07/2018, cơ quan Điều tra đã tiến hành xác M nguồn gốc chiếc xe. Quá trình điều tra xác định BKS thực tế của xe là 99T1- 9694 là tài sản mang tên anh Nguyễn Thế Miền, sinh năm 1970 ở Đồng Đông, Đại Đồng Thành, Thuận Thành, Bắc Ninh, anh Miền khai nhận mình bị mất trộm chiếc xe tại Đồng Đông, Đại Đồng Thành, Thuận Thành, Bắc Ninh từ khoảng Thg 7 năm 2013. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tách chiếc xe và liên hệ với cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành để giải quyết theo thẩm quyền.

Người bị hại là anh Nguyễn Đức M đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước có chữ: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo kết luận số 883/ KLGĐMT- PC 54 ngày 03/8/2018. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 con dao bài có lưỡi bằng kim loại màu đen, phần chuôi dao bằng nhựa màu đen đã vỡ gãy một phần là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo về tội đã truy tố, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xử phạt Nguyễn Khắc Th 06 Thg tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 Thg tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Khắc Th phải chịu hình phạt chung cho cả 2 tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2018 là ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

Áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong mặt trước có chữ: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo kết luận số 883/ KLGĐMT- PC 54 ngày 03/8/2018. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Ninh và 01 con dao bài có lưỡi bằng kim loại màu đen, phần chuôi dao bằng nhựa màu đen đã vỡ gãy một phần.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án

Cỡ chữ