- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Q - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T và Lê Hùng B về phần hình phạt; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2018/HS-ST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T về điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2018/HS-PT Ngày: 06-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - h t a phi n tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
ác Thẩm phán:
Ông Trương Văn Lộc;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Lệ Huyền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 5 và 06 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 48/2018/TLPT-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T, Lê Hùng B do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2018/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
H và t n các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1989; tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 9, khu 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Bùi Thị Đ1, sinh năm 1967; có vợ tên Võ Thị Thanh H, sinh năm 1989 và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016 được trả tự do và tại ngoại cho đến nay; có mặt.
2. Cam Thanh T, sinh năm 1991; tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 5, khu 5, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cam Văn S (đã chết) và bà Huỳnh Thị Mộng T1, sinh năm 1972; bị cáo có vợ tên Hoàng Thị L, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016 được trả tự do và tại ngoại cho đến nay; có mặt.
3. Lê Hùng B, sinh năm 1990; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số 384, ĐLBD, tổ 3, khu 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn T2, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Ngọc T3, sinh năm 1965; bị cáo có vợ tên Lý Võ Minh T4, sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 16/12/2016 đến ngày 25/01/2017 được trả tự do và tại ngoại cho đến nay; có mặt.
Trong vụ án còn có các bị cáo Võ Minh T5, Nguyễn Tiến L2, Huỳnh Văn T6, Hồ Tấn T7; bị hại ông Dương Hoài P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc H1, tuy nhiên những người này không kháng cáo và Viện Kiểm sát không kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với ông Dương Hoài P từ trước nên khoảng 17 giờ ngày 14/12/2016, Võ Minh T5 sử dụng điện thoại di động Iphone có số thuê bao 0939.272.851 gọi cho Huỳnh Văn T6, Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T, Lê Hùng B và Hồ Tấn T7 rủ đến quán C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tổ chức uống bia và bàn tính cách giải quyết mâu thuẫn giữa Minh T5 và ông P; cả nhóm đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày 14/12/2016, Huỳnh Văn T6 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 61B1-340.09 chạy đến nhà của Minh T5 để cùng Minh T5 đến quán C. Lúc này, Minh T5 điều khiển xe mô tô hiệu Click màu trắng biển số 61G1- 204.81 chở theo một bao tải bên trong có 12 cây búa có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 30cm (thường gọi là búa đẽo), còn Huỳnh Văn T6 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61B1-340.09 cùng chạy đến quán C.
Khi đến quán, sau khi kêu đồ ăn, bia ra uống thì Minh T5 điện thoại cho Q, T, B và T7 hỏi khi nào đến quán. Khoảng 30 phút sau, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Elizabeth, biển số 61X2 - 7219 chạy đến quán và ngồi cùng bàn với Minh T5 và Văn T6. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 61U1- 6794 chạy đến quán, còn L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 61B1- 327.26 chở B chạy đến sau T khoảng 10 phút. Tại đây, trong lúc Minh T5, T, B, Q, Văn T6 và L2 ngồi uống bia với nhau thì Minh T5 nói với cả nhóm “tí nữa nhậu xong tụi bây đi với tao đến Cửa hàng máy tính PN PNC kiếm thằng P chủ tiệm đập phá tài sản để hăm dọa do nó có mâu thuẫn với tao” thì cả nhóm đồng ý và tiếp tục ngồi uống rượu, bia.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Minh T5 tính tiền rồi cả nhóm ra lấy xe. Minh T5 lấy 12 cây búa đẽo đã đem theo sẵn đưa cho B 04 cây, còn Minh T5, Q, T, Văn T6 mỗi người cầm 02 cây giấu trong người. Sau đó, Minh T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 61G1-204.81 chở T và Văn T6, còn L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1- 327.26 chở B. Lúc này, T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Taurus, biển số 61X3- 0815 chạy đến quán C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì gặp cả nhóm nên Minh T5 kêu T7 chở Q cùng cả nhóm đến Cửa hàng máy tính PN PNC tại số 314, khu phố 7, đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (cách quán C khoảng 01 km) do ông P làm chủ tiệm để đập phá tài sản.
Khi cả nhóm chạy đến Cửa hàng máy tính Phương Nhàn PNC của ông P thì ngừng xe lại; Minh T5, T, Q, B cầm búa đẽo đi vào trong tiệm đập phá tài sản, còn T7, Văn T6 và L2 thì đứng bên ngoài quan sát chứ không tham gia. Sau khi đập phá tài sản của ông P xong thì cả nhóm lên xe tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, Minh T5 đã ném 04 cây búa đẽo vào thùng rác ven đường (không xác định được địa chỉ cụ thể) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương không thu hồi xử lý.
Sau khi nhóm của Minh T5 đập phá tài sản, ông P đã đến Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo vụ việc. Cùng ngày, Công an phường H, thành phố T đã lập biên bản vụ việc, xác định tài sản bị thiệt hại gồm:
- 01 (một) màn hình máy tính Asus Core i3;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu Asus Core i3 bị bể màn hình, hư pin, bể đế không chạy hệ điều hành;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu HP compad NX6120 bể màn hình, gãy bo mạch, hư hỏng hoàn toàn;
- 01 (một) main Gigabyte GA-B85M-D3V và CPU i3 4150 và 02 ram 4G của thùng máy tính Asus màu đen VSP;
- 01 (một) main Gigabyte H81M CPU G3450 của thùng máy tính SAMA;
- 01 (một) main Gigabyte B85M và CPU i3 4150 của thùng máy tính Venr;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu Asus – 24 inch màu đen bị hư chân đế;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu AOC – 27 inch màu trắng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,32 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 1,2 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 0,3 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,4 mét;
- 01 (một) quạt gió (giao Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 278 ngày 22/12/2016, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Bình Dương, kết luận:
- 01 (một) màn hình máy tính Asus Core i3 trị giá 1.300.000 đồng;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu Asus Core i3 bị bể màn hình, hư pin, bể đế không chạy hệ điều hành trị giá 3.500.000 đồng;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu HP compad NX6120 bể màn hình, gãy bo mạch, hư hỏng hoàn toàn trị giá 1.000.000 đồng;
- 01 (một) main Gigabyte GA-B85M-D3V và CPU i3 4150 và 02 ram 4G của thùng máy tính Asus màu đen VSP trị giá 3.500.000 đồng;
- 01 (một) main Gigabyte H81M CPU G3450 của thùng máy tính SAMA trị giá 2.000.000 đồng;
- 01 (một) main Gigabyte B85M và CPU i3 4150 của thùng máy tính Venr trị giá 2.900.000 đồng;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu Asus – 24 inch màu đen bị hư chân đế trị giá 150.000 đồng;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu AOC – 27 inch màu trắng trị giá 3.000.000 đồng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,32 mét trị giá 76.000 đồng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 1,2 mét trị giá 360.000 đồng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 0,3 mét trị giá 90.000 đồng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,4 mét trị giá 112.000 đồng;
- 01 (một) quạt gió trị giá 200.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 18.188.000đồng.
Đối với 12 cây búa có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 30cm. Qua công tác khám nghiệm hiện trường đã thu được 08 cây búa đẽo, còn 04 cây búa đẽo thì Minh T5 khai đã ném vào thùng rác ven đường trên đường tẩu thoát và không xác định địa điểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương không thu hồi được. Qua điều tra xác định, đây là công cụ Võ Minh T5, Nguyễn Tiến Q, Lê Hùng B, Cam Thanh T, Huỳnh Văn T6, Nguyễn Tiến L2, Hồ Tấn T7 dùng thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 61B1- 327.26 đã thu giữ của Nguyễn Tiến L2. Quá trình điều tra xác định, đây là phương tiện mà L2 chở B thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị tịch thu sung công quỹ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Click, màu trắng, biển số 61G1- 204. 81 đã thu giữ của Võ Minh T5. Qua điều tra, xác định đây là xe mô tô do ông Lê Tiết N, địa chỉ: Khu 2, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông N đã bán chiếc xe mô tô nói trên cho bà Phan Thị Ngọc H1, sinh năm 1974 (bà H1 là cô ruột của Võ Minh T5) nhưng không làm Giấy mua bán mà chỉ làm Hợp đồng ủy quyền. Việc Minh T5 sử dụng chiếc xe mô tô nói trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội bà H1 không biết. Ngày 31/12/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã giao trả xe mô tô nhãn hiệu Click màu trắng biển số 61G1- 204. 81 cho bà Phan Thị Ngọc H1.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen (số khung 079499; số máy 16S1-079498) biển số 61X3 - 0815. Quá trình điều tra, xác định: Đây là xe do ông Hồ Văn H2, sinh năm 1967 đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe (ông H2 là cha ruột của T7). Ngày 14/12/2016, ông H2 cho T7 mượn xe mô tô nói trên để đi học nên việc T7 sử dụng xe mô tô nói trên thực hiện hành vi phạm tội, ông H2 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương không thu hồi xử lý.
Đối với tài sản:
- 01 (một) màn hình máy tính Asus Core i3;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu Asus Core i3 bị bể màn hình, hư pin, bể đế không chạy hệ điều hành;
- 01 (một) máy tính laptop hiệu HP compad NX6120 bể màn hình, gãy bo mạch, hư hỏng hoàn toàn;
- 01 (một) main Gigabyte GA-B85M-D3V và CPU i3 4150 và 02 ram 4G của thùng máy tính Asus màu đen VSP;
- 01 (một) main Gigabyte H81M CPU G3450 của thùng máy tính SAMA;
- 01 (một) main Gigabyte B85M và CPU i3 4150 của thùng máy tính Venr;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu Asus – 24 inch màu đen bị hư chân đế;
- 01 (một) màn hình máy tính hiệu AOC – 27 inch màu trắng;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,32 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 1,2 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,5 mét x 0,3 mét;
- 01 (một) tấm kính trắng dày 4mm kích thước 1,2 mét x 0,4 mét;
- 01 (một) quạt gió.
Quá trình điều tra, xác định: Đây là tài sản của ông Dương Hoài P. Ngày 16/01/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã giao trả số tài sản nêu trên cho ông Dương Hoài P. Quá trình điều tra, các bị cáo Võ Minh T5, Nguyễn Tiến Q, Lê Hùng B, Cam Thanh T, Huỳnh Văn T6 đã thỏa thuận bồi thường cho ông Dương Hoài P 75.000.000 đồng. Ông P có đơn bãi nại, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2018/HS-ST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T, Lê Hùng B phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm d khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016;
- Xử phạt bị cáo Cam Thanh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016;
- Xử phạt bị cáo Lê Hùng B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2016 đến ngày 25/01/2017.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Võ Minh T5 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, Nguyễn Tiến L2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Huỳnh Văn T6 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Hồ Tấn T7 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/3/2018, bị cáo Lê Hùng B kháng cáo xin chuyển từ hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ (đơn kháng cáo trong hạn luật định).
Ngày 13/3/2018, bị cáo Cam Thanh T kháng cáo xin được hưởng án treo (đơn kháng cáo trong hạn luật định).
Ngày 16/3/2018, bị cáo Nguyễn Tiến Q kháng cáo xin được hưởng án treo (đơn kháng cáo trong hạn luật định).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết đối với vụ án: Xác định tội danh, điều luật Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với các bị cáo Q, T, B là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Q, T, B mỗi bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, đã có xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo B kháng cáo xin chuyển từ hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ, tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo; các bị cáo T, Q kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tiến Q trình bày và nói lời sau cùng tại phiên tòa: Bị cáo có con nhỏ, bị cáo đã chấp hành xong nghĩa vụ quân sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Bị cáo Cam Thanh T trình bày và nói lời sau cùng tại phiên tòa: Vợ bị cáo đang có thai, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Bị cáo Lê Hùng B trình bày và nói lời sau cùng tại phiên tòa: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/12/2016 tại Cửa hàng máy tính PN PNC của ông Dương Hoài P; địa chỉ: Số 314, khu phố 7, đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Q, T, B bị bị cáo Minh T5 rủ rê, xúi giục nên các bị cáo Q, T, B cùng với Minh T5 và các bị cáo khác có hành vi dùng búa có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại đập phá tài sản của ông P gây thiệt hại về tài sản có tổng giá trị là 18.188.000 đồng (căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 22/12/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T).
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của ông Dương Hoài P được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi đập phá tài sản của ông P là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo Minh T5 rủ rê nên đã cố ý thực hiện.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì: "1. Người nào h y hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản c a người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghi m tr ng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".
Theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: “1. Người nào h y hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản c a người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”.
Các bị cáo Q, T, B cùng với các bị cáo khác có hành vi dùng búa đập phá tài sản của ông P gây thiệt hại về tài sản có tổng giá trị là 18.188.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/12/2016, thời điểm này Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật nhưng thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 06/3/2018 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đang có hiệu lực pháp luật. Đối chiếu với quy định của pháp luật được viện dẫn ở trên và quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc hướng dẫn xét xử đối với các vụ án xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thì việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có lợi hơn cho người phạm tội trong vụ án này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 để giải quyết vụ án là có sai sót, cần rút kinh nghiệm. Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm d khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 sang khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng văn bản pháp luật sai nhưng mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo Q, T, B là không nặng; đồng thời, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định của pháp luật; do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo về phần hình phạt của các bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo nên các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T và Lê Hùng B về phần hình phạt; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2018/HS-ST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T về điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Cam Thanh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2016 đến ngày 24/12/2016.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Lê Hùng B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2016 đến ngày 25/01/2017.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Cam Thanh T và Lê Hùng B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương; - TAND thành phố T; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Công an thành phố T; - Bị cáo; - Tổ HCTP; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu HS. CÁC THẨM PHÁN THÀNH VIÊN CÁC THẨM PHÁN THÀNH VIÊN Trần Văn Luông Nguyễn Minh Hoàng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Huỳnh Đức 1 THẨM PHÁN - CHỦ TỌA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Nguyễn Huỳnh Đức |