- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Văn Đ-Lê Thị N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b k…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2018/HNGĐ-ST Ngày: 09/7/2018 “V/v ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Trần Thu Trang.
2- Ông Phạm Đức Hoài.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lư Quốc Thịnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 65/2018/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2018 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2018/QĐXX-ST, ngày 06 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2018/QĐST- HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Anh Trương Văn Đ, sinh ngày 10/5/1989 (có mặt).
2- Bị đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/3/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trương Văn Đ trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Anh Đ và chị Lê Thị N kết hôn với nhau vào năm 2009, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Đến ngày 25/02/2013 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng cự cải nhau và sau đó chị N có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau đến nay gần 3 năm nhưng chị N không có lần nào về thăm con. Nay anh Đ xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa nên anh yêu cầu xin được ly hôn với chị Lê Thị N.
Về con chung: Có 01 đứa con tên Trương Anh T, sinh ngày 25/02/2012, từ khi ly thân cho đến nay anh Đ là người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, cuộc sống của cháu T vẫn ổn định và bản thân anh Đ có việc làm, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con. Vì vậy, anh Đ yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Anh Đ thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với bị đơn chị Lê Thị N Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị N vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh Đ.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Trương Văn Đ vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Anh yêu cầu xin ly hôn với chị Lê Thị N.
Về con chung: Anh yêu cầu được nuôi con là Trương Anh T, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Thị n vắng mặt.
Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:
Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Về phần nội dung:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Đ xử cho anh Trương Văn Đ và chị Lê Thị N được ly hôn.
Về con chung: Giao cháu Trương Anh T, sinh ngày 25/02/2012 cho anh Trương Văn Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và phần nợ chung: Anh Trương Văn Đ thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với chị Lê Thị N đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với chị Lê Thị N.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Anh Trương Văn Đ và chị Lê Thị N kết hôn với nhau ngày 25/02/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận kết hôn số:42 ngày 25/02/2013 do anh Đ cung cấp nên hôn nhân của anh Đ và chị N là hợp pháp.
Về mâu thuẫn, sau khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường cự cải nhau. Từ đó, chị N đã bỏ nhà ra đi từ năm 2014 cho đến nay. Thể hiện tại biên bản xác minh ngày 10/4/2018 (BL 15).
Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ xử cho anh Trương Văn Đ và chị Lê Thị N ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Trương Văn Đ và chị Lê Thị N có 01 đứa con tên Trương Anh T, sinh ngày 25/02/2012, anh Đ yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của anh Đ là có cơ sở. Bởi vì, từ khi ly thân cho đến nay anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, hơn nữa anh Đ có việc làm, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ xử giao cháu Trương Anh T cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và nợ chung: Anh Đ thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc anh Trương Văn Đ phải chịu 300.000đ. Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ , theo lai thu số 0001464, ngày 09/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy anh Đ đã nộp đủ tiền án phí.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Trương Văn Đ và chị Lê Thị N được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Anh T, sinh ngày 25/02/2012 cho anh Trương Văn Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị N có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh Đ và chị N có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: Anh Trương Văn Đ thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc anh Trương Văn Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0001464, ngày 09/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy anh Đ đã nộp đủ tiền án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho anh Đ có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/7/2018). Đối với chị N vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - UBND xã Nam Yên;. - Các đương sự; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Tâm |