vanban.org

Bản án 44/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2017, được khấu trừ thời gian tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị P - Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 255 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 44/2017/HSST
Ngày 18/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Cảnh;

2. Ông Kim Niệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 15/5/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2017/HSST - QĐ ngày 20/7/2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị P, sinh năm 1965 tại Bình Dương; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12, dân tộc: Kinh; con ông Huỳnh Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị B (chết); Tiền sự, tiền án: Không; về nhân thân: Ngày 20/7/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 10 năm tù về tội Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm theo Bản án số 158/2005/HSST ngày 20/7/2005, chấp hành án tại Trại giam An Phước đến ngày 30/8/2011 được đặc xá. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2016 đến ngày 17/01/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Bị cáo bị bắt tạm giam lần 2 từ ngày 17/4/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Khu phố B, phường U, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

2. Bà Kha Hồng C, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp S, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Bé D, sinh năm 1990; Nơi cư trú: khóm X, phường LT, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Tạm trú: Khu phố G, phường U, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

2. Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Ấp P, xã O, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 09/10/2016, Phan Như Huỳnh D gọi điện cho Huỳnh Thị P nhờ P giới thiệu cho D hai người phụ nữ bán dâm để D và bạn của D tên Tý (không rõ nhân thân, lai lịch) mua dâm, địa điểm mua dâm tại nhà nghỉ KS thuộc ấp P, xã O, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, P đồng ý. Sau khi thỏa thuận giá bán dâm với D, P điều khiển xe mô tô biển số 61G1-12345 đến gặp Kha Hồng C, Nguyễn Thị Bé D gọi C, D đi bán dâm cho D, Tý. Khi đến nhà nghỉ KS, D trả cho P 1.000.000 đồng, P đưa cho D, C mỗi người 500.000 đồng. Sau đó, D, D vào phòng số 8 để quan hệ tình dục với nhau còn P, C, Tý tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ XY trên địa bàn ấp C, xã O để C bán dâm cho Tý. Khi D, D đang quan hệ tình dục thì bị Công an huyện Phú Giáo bắt quả tang. Huỳnh Thị P đang cùng Kha Hồng C đến nhà nghỉ XY thì bị Công an xã O, huyện Phú Giáo mời về trụ sở làm việc, P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tạm giữ:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 206 màu đen, 01 (một) điện thoại di động FPT màu vàng, số tiền 2.440.000 đồng và 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61G1 - 12345 của Huỳnh Thị P;

- Số tiền 860.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Kha Hồng C;

- Số tiền 500.000 đồng của Nguyễn Thị Bé D;

Tại Cáo trạng số 05/QĐ - KSĐT, ngày 17/01/2017, Công văn số 05/CV-VKS ngày 12/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thị P về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm e khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận thay đổi quyết định truy tố đối với bị cáo P, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 255 của BLHS và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P từ 18 tháng đến 24 tháng tù, đồi thời đề nghị xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 206 màu đen, 01 điện thoại di động FPT màu vàng của Huỳnh Thị P; số tiền 500.000 đồng của Kha Hồng C và số tiền 500.000 đồng của Nguyễn Thị Bé D;

+ Đề nghị trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị P số tiền 2.440.000đ; trả cho Kha Hồng C số tiền 360.000đ và 01 (một) điện thoại di động Samsung màu trắng (số imei: 354741/07/061126/5).

Trong phần tranh luận tại phiên tòa: Do Kiểm sát viên thay đổi truy tố xuống khoản 1 Điều 255 BLHS bị cáo thống nhất và không tranh luận gì về tội danh, về hình phạt bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã lời khai trong hồ sơ, chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61G1-12345 là xe của bà H cho P mượn làm phương tiện đi lại nhưng không biết P sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 02/12/2016, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo đã trao trả chiếc xe này cho bà H. Bà H nhận lại xe và không yêu cầu gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 10 giờ ngày 09/10/2016 bị cáo Huỳnh Thị P đã giới thiệu Kha Hồng C, Nguyễn Thị Bé D cho Phan Như Huỳnh D và một đối tượng tên Tý (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua dâm. Khi đến nhà nghỉ KS thuộc xã O, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, D gặp và đưa cho bị cáo P số tiền 1.000.000đ, bị cáo P đưa cho C và D mỗi người 500.000đ. Sau đó, D và D vào phòng số 8 của nhà nghỉ KS để quan hệ tình dục với nhau. Khi D và D đang quan hệ tình dục thì bị Công an huyện Phú Giáo bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo P môi giới cho D và D mua dâm (quan hệ tình dục) đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. Đối với C khi đến nhà nghỉ KS do C quen với chủ nhà nghỉ nên C không đồng ý quan hệ tình dục cùng với Tý ở nhà nghỉ KS mà phải đến một nhà nghỉ khác. Sau đó, bị cáo P, C và Tý đang trên đường đến nhà nghỉ XY để C bán dâm cho Tý thì bị Công an xã O mời về trụ sở làm việc, Tý đã bỏ trốn. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Tý cũng như hành vi mua dâm của Tý với C nên chưa đủ cơ sở kết luận P có hành vi môi giới mại dâm cho Tý và C. Do đó, hành vi của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm với tình tiết định khung phạm tội đối với nhiều người theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 255 BLHS mà chỉ đủ cơ sở khẳng định bị cáo phạm tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 255 BLHS như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống lành mạnh của giới thanh thiếu niên hiện nay, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách bài trừ tệ nạn xã hội của Nhà nước, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh, sức khỏe con người và là nguyên nhân làm lây truyền nhiều căn bệnh nguy hiểm. Vì vậy, nghĩ cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ là Huỳnh Thị Bê có công với cách mạng nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về tội danh và mức hình phạt theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 206 màu đen (số imei: 354125/05/085990/6), 01 (một) điện thoại di động FPT màu vàng (số imei: 980029003831347 thu giữ của Huỳnh Thị P là phương tiện bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội nên HĐXX quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ Đối với số tiền 500.000đ thu giữ của Kha Hồng C và 500.000đ thu giữ của Nguyễn Thị Bé D là số tiền do C, D mua bán dâm mà có nên HĐXX quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ Đối với số tiền 2.440.000đ thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị P không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX quyết định trả lại cho bị cáo P.

+ Đối với số tiền 360.000đ và 01 điện thoại di động Samsung màu trắng (số imei: 354741/07/061126/5) thu giữ của Kha Hồng C không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX quyết định trả lại cho C.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Môi giới mại dâm”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2017, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2016 đến ngày 17/01/2017.

3. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 206 màu đen (số imei: 354125/05/085990/6), 01 (một) điện thoại di động FPT màu vàng (số imei: 980029003831347) của Huỳnh Thị P.

+ Trả lại cho Kha Hồng C 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng (số imei: 354741/07/061126/5).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Kha Hồng C và 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Bé D.

+ Trả lại cho Huỳnh Thị P số tiền 2.440.000đ (Hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng), trả lại cho Kha Hồng C số tiền 360.000đ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

(Thể hiện tại Giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước huyện Phú Giáo ngày 20/01/2017).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Thị P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Bình Dương

(Đã ký)

- VKSND huyện Phú Giáo;

- Công an huyện Phú Giáo;

- Chi cục THADS huyện Phú Giáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, VP.

Nguyễn Thị Kim Khoa

Cỡ chữ