- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44 /2017/HSST Ngày 27 tháng 7 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thu Hoài
Các hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Mạnh Khang - Giảng viên trung tâm chính trị huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
+ Bà Đoàn Thị Thư - Chủ tịch Hội phụ nữ huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Trú tại: Xóm G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn S và con bà: Khánh Thị O; Vợ: Lê Hồng T (đã ly hôn), Con: 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: chưa; Danh, chỉ bản số: 94 ngày 18/4/2017 do Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội lập; Bị cáo hiện đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987;
Trú tại: thôn D, xã S, huyện HD, thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 22 giờ 03 phút ngày 23/01/2017, anh Nguyễn Văn Th (Sinh năm 1987; HKTT: thôn D, xã S, huyện HD, thành phố Hà Nội) điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu bạc biển kiểm soát 30E – 566.21 đi chở khách thuê thì nhận được điện thoại của chị Lê Hồng T (sinh năm 1986; HKTT: thôn D, xã S, huyện HD, thành phố Hà Nội) nhờ anh Th đi đến nhà chồng cũ của chị là anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1984; HKTT: xóm G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội) đón hai con của chị T là cháu Nguyễn Văn Lê Hồng M (sinh năm 2010) và cháu Nguyễn Văn G (sinh năm 2012) về nhà ngoại (anh T đồng ý).
Sau đó, khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh Th điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu bạc biển kiểm soát 30E – 566.21, số máy G4LAGM 067899, số khung 41CAHM 188624 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên bố mẹ đẻ anh Th là ông Nguyễn V T ở thôn D, xã S, huyện HD, thành phố Hà Nội) đến thôn G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội cách ngõ vào nhà anh Nguyễn Văn T khoảng 100m thì dừng lại. Anh Th điện thoại cho chị T, sau đó chị T nhắn tin nói anh Nguyễn Văn T đưa hai cháu Giang và Minh ra chỗ anh Th để chở về. Cùng lúc này, anh T nghe tiếng trẻ con nên điều khiển xe ô tô đỗ (vẫn nổ máy) gần sát tường bao nhà ông Nguyễn Như S ở thôn G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội, đầu xe hướng ra đường tỉnh lộ 422, đuôi xe hướng đi thôn G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội. Khi T cùng hai con đi gần tới chỗ đỗ xe ô tô của anh Th thì Nguyễn Văn T dùng 01 (một) con dao (loại dao dực có đặc điểm dài khoảng 20cm, đầu vuông, bản rộng phần cán dao dài khoảng 05-07cm chém 02 (hai) nhát vào đèn pha trước bên phải của xe ô tô, 02 (hai) nhát vào nắp ca pô. Sau đó, T đi lên phía trước của xe ô tô chém tiếp 02 (hai) nhát vào đèn pha trước bên trái và gương chiếu hậu bên trái (bên ghế lái) của xe ô tô, sau đó dao xượt vào phần thân xe cách gương chiếu hậu bên trái khoảng 11cm. Thấy vậy, anh Th lái xe đi thẳng đến Công an huyện Hoài Đức trình báo sự việc.
Tài sản thiệt hại của xe ôtô Huyndai Grand i10 BKS 30E – 566.21 được xác định:
- Vỡ đèn pha trước bên phải kích thước (37x11,5)cm, phía trong rạn vỡ.
- Vỡ đèn pha trước bên trái kích thước (42x22)cm, phía trong rạn vỡ.
- Nắp ca pô trên đèn pha bên phải có 02 (hai) vết chém thủng dài lần lượt là 06 và 05cm. Diện móp bẹp nắp ca pô quanh hai vết thủng là (21x14)cm; 02 (hai) vết thủng, xước xe sắc gọn.
- Gương chiếu hậu bên trái vỡ nắp ốp nhựa, phần gương rời khỏi vị trí ban đầu.
- Trên thân xe bên trái tại vị trí cách gương 11cm về phía đầu xe và cách lốp xe bên trái phía trước 19cm có vết xước, bong tróc sơn chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước dài 8,5cm.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu bạc biển kiểm soát 30E – 566.21; số máy: G4LAGM 067899; số khung: 41CAHM 188624 với tình trạng xe bị hư hỏng một số bộ phận.
Ngày 20/2/2017, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Hoài Đức đưa ra Bản kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS:
- Phần đèn pha trước bên phải vỡ kích thước (37x11,5)cm, phải thay thế, có giá: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
- Phần đèn pha trước bên trái kích thước (42x22)cm, phải thay thế, có giá: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
- 02 (hai) vết thủng ở nắp ca pô trên đèn pha bên phải dài lần lượt là 06 và 05cm. Diện móp bẹp nắp ca pô quanh hai vết thủng là (21x14)cm có thể sửa chữa được.
- Gương chiếu hậu bên trái hư hỏng hoàn toàn, phải thay thế có giá: 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Vết xước, bong tróc sơn dài 8,5cm trên thân xe bên trái cách gương chiếu hậu 11cm về phía đầu xe có thể sửa chữa được.
Công sửa: 1.550.000đ (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng số tiền tài sản cần thay thế và công sửa chữa là 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Ngày 23/6/2017, người bị hại là anh Nguyễn Văn Th có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại: 18.562.500 đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) tiền sửa chữa, thay thế phần hư hỏng xe; 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền thu nhập trong 02 (hai) ngày đi sửa xe; 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền thiệt hại mất giá trị xe ô tô. Tổng số tiền anh Th yêu cầu bị cáo phải bồi thường là 32.562.500 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Ngày 23/6/2017, bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền khắc phục hậu quả cho anh T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu số 0007073 ngày 23/6/2017.
Ngày 24/01/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã trả lại cho anh Nguyễn Văn Th 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu bạc biển kiểm soát 30E- 566.21; số máy: G4LAGM 067899; số khung: 41CAHM 188624 với tình trạng xe bị hư hỏng một số bộ phận như lúc tạm giữ theo Biên bản trả xe ô tô ngày 24/01/2017 giữa Công an huyện Hoài Đức với anh Nguyễn Văn Th.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 10/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 143; các điểm b, h, p Khoản 1, 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12- 18 tháng
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Khoảng 22 giờ 03 phút ngày 23/01/2017, tại đường làng xóm G, xã Đ, huyện HD, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T đã có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của anh Nguyễn Văn Th. Tài sản bị hư hỏng là: Vỡ đèn pha trước bên phải kích thước (37x11,5)cm, phía trong rạn vỡ, Vỡ đèn pha trước bên trái kích thước (42x22)cm, phía trong rạn vỡ, Nắp ca pô trên đèn pha bên phải có 02 (hai) vết chém thủng dài lần lượt là 06 và 05cm. Diện móp bẹp nắp ca pô quanh hai vết thủng là (21x14)cm; 02 (hai) vết thủng, xước xe sắc gọn, Gương chiếu hậu bên trái vỡ nắp ốp nhựa, phần gương rời khỏi vị trí ban đầu, trên thân xe bên trái tại vị trí cách gương 11cm về phía đầu xe và cách lốp xe bên trái phía trước 19cm có vết xước, bong tróc sơn chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước dài 8,5cm của xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Grand i10 màu bạc biển kiểm soát 30E – 566.21, số máy: G4LAGM 067899; số khung: 41CAHM 188624 thuộc sử hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn Th. Tổng số tiền thiệt hại về tài sản cần thay thế và công sửa chữa là 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo là cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, giảm giá trị sử dụng tài sản của anh Nguyễn Văn T, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ảnh hưởng trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện Kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Toà án xét xử nghiêm minh đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại là anh Nguyễn Văn Th; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có bố là người có công với cách mạng. Tại phiên tòa người bị hại là anh Nguyễn Văn Th đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tài sản bị thiệt hại giá trị không lớn, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là bột phát, tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xÐt thÊy kh«ng cÇn thiÕt ph¶i c¸ch ly bÞ c¸o khái x· héi mµ t¹o ®iÒu kiÖn cho bÞ c¸o lµm ¨n, sinh sèng vµ chøng tá sù hèi c¶i, hoµn lư¬ng cña m×nh ngay trong m«i trưêng x· héi b×nh thưêng, dưíi sù gi¸m s¸t, gi¸o dôc cña Uû ban nh©n d©n x· n¬i bÞ c¸o cư tró vµ gia ®×nh bÞ c¸o. §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Hoµi §øc ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö ¸p dông c¸c ®iÓm b, h, p, kho¶n 1, 2, §iÒu 46; §iÒu 60 cña Bé luËt h×nh sù xö ph¹t bÞ c¸o h×nh ph¹t tï nhưng cho hưëng ¸n treo lµ cã c¨n cø; do ®ã Héi ®ång xÐt xö ¸p dông quy ®Þnh t¹i c¸c kho¶n 1, 2 ĐiÒu 60 cña Bé luËt h×nh sù cho bÞ c¸o ®ưîc c¶i t¹o ngoµi x· héi lµ phï hîp.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 18.000.000đ, người bị hại hoàn toàn đồng ý. Sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người bị hại không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xứ ghi nhận. Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 8.000.000đ, số tiền còn lại 10.000.000đ(Mười triệu đồng) bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội theo Biên lai thu số 0007073 ngày 23/6/2017. Anh Nguyễn Văn Th được nhận số tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng) do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
* Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
* Áp dụng Khoản 1 Điều 143; Điểm b,h p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; các khoản 1,2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) th¸ng tï nhưng cho hưëng ¸n treo, thêi h¹n thö th¸ch 12 th¸ng kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm. Giao bÞ c¸o vÒ Uû ban nh©n d©n x· Đ – huyện HD, thành phố Hà Nội gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch. Trong trưêng hîp ngưêi ®ưîc hưëng ¸n treo thay ®ổi n¬i cư tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 69 cña LuËt thi hµnh ¸n h×nh sù.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường về trách nhiệm dân sự của bị cáo cho người bị hại số tiền 18.000.000đ. Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 8.000.000đ. Người bị hại là anh Nguyễn Văn Th được nhận số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu số 0007073 ngày 23/6/2017.
* Về án phí:
- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 231 và 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Công an huyện Hoài Đức; - VKS nhân dân huyện Hoài Đức; - Chi cục T.H.A. DS huyện Hoài Đức; - TAND T phố Hà Nội; - Bị cáo; - UBND xã; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Cao Thu Hoài Cao Thu Hoài |