- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Phan Thị Thu H - BĐ: Nguyễn Hoàng T"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:44/2017/HNGĐ-PT Ngày: 28/9/2017 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Luyến Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Công sự
Ông Lê Thanh Sỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Đức - Thư ký TAND tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông La Minh Dũng-Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 44/2017/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2017 về “Ly hôn và tranh châp nuôi con” Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 32/2017/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 53/2017/QĐ-PT ngày 29/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2017/QĐ-HPT ngày 18/9/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 384, ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, H. Lấp Vò, T. Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp 3, xã D, H. C, T. Đồng Nai.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai theo Quyết định kháng nghị số 22/QĐKN-VKS-DS ngày 12/7/2017
(Bà H có mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN;
- Theo đơn khởi kiện, các lời khai bổ sung, nguyên đơn bà Phan Thị Thu H trình bày: Trên cơ sở nhận tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau trong khoảng thời gian 03 đến 04 tháng thì vào năm 2006 bà và ông Nguyễn Hoàng T tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D1, huyện C, tỉnh Đồng Nai, đây là hôn nhân lần đầu tiên của ông bà. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, do ông bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã về chuyện tiền bạc, đến năm 2012 ông T nói đi làm ăn xa và bỏ đi biệt tích từ đó đến nay không quay về, bà đã làm đơn yêu cầu và được Tòa án nhân dân huyện C chấp nhận tuyên bố ông Nguyễn Hoàng T mất tích. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Quá trình chung song ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Yến M- sinh ngày: 23/10/2009, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi cháu M, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không có
- Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T vắng mặt nên không có lời khai. * Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 32/2017/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C đã căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 , điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Yến M- sinh ngày 23/10/2009 cho bà Phan Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T. Khi cần thiết, bà H và ông T được quyền yêu cầu xin thay đổi người nuôi dưỡng và việc cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết
- Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Phan Thị Thu H phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm. Ngoài ra bản án còn quy định về quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 12/7/2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định kháng nghị số 22/QĐKN-VKS-DS, kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sử một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thời hạn kháng nghị: Ngày 12/7/2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định kháng nghị số 22/QĐKN-VKS-DS kháng nghị bản án sơ thẩm số: 32/2017/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là trong thời hạn luật định nên được chấp nhận và giải quyết theo thủ tục chung. [2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Về quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T, bà H trình bày hai ông bà tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D1, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo trích lục kết hôn số: 37/TLKH-BS ngày 06/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã D1. Do đó, hôn nhân của bà H với ông T là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số: 08/2016/QĐST-DS ngày 15/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên bố ông Nguyễn Hoàng T mất tích. Theo biên bản xác minh ngày 30/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã D1 đã thể hiện ông T rời khỏi địa phương từ năm 2012 và hiện không sinh sống tại địa phương, Chính quyền địa phương cũng không biết ông T hiện đang ở đâu, gia đình của ông T cũng đã bỏ đi khỏi địa phương nên không còn ai là họ hàng. Theo lời trình bày của bà H, bà và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Yến M- sinh ngày: 23/10/2009, về tài sản chung và nợ chung là không có. Xét thấy hiện ông T đang mất tích nên việc xác định tài sản chung và nợ chung của bà H và ông T chỉ dựa trên cơ sở lời khai của bà H là chưa đủ căn cứ để chứng minh. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phần nợ chung của bà H, ông T là không có nên không xem xét giải quyết là chưa đúng. Do đó kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là có căn cứ để chấp nhận, cẩn sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên. [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, của các đương sự là đúng với các quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định. Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Sửa một phần bản án sơ thẩm số: 32/2017/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ các Điều 28, 39, Điều 286, 290 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Sửa bản án sơ thẩm số: 32/2017/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C về cách tuyên. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Yến M- sinh ngày 23/10/2009 cho bà Phan Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T. Khi cần thiết, bà H và ông T được quyền yêu cầu xin thay đổi người nuôi dưỡng và việc cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.
- Về tài sản, nợ chung giữa bà H với ông T: Không xem xét giải quyết.
- Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án .
| Nơi nhận: - VKSND T.Đồng Nai; - Đương sự; - TAND H. C; - Chi cục THADS H. C; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Trí Thức Vũ Thị Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Hồng Luyến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Luyến |