vanban.org

Bản án 439/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét. 4. Về nợ chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P xác định không có, nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 439/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-8-2025
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lương Thị Kim Nghĩa;

2/ Bà Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương - Là thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thanh H, sinh ngày: 26/7/19xx (xin vắng mặt). Thường trú: 5/11 Khu phố 2, phường C, Quận Y, Thành phố M (nay là phường C1, Thành phố M).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng P, sinh ngày: 29/7/19xx (xin vắng mặt). Thường trú: 24 đường A, phường B, quận T, Thành phố M (nay là phường B1, Thành phố M).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Võ Thanh H trình bày: Bà và Ông Nguyễn Hồng P có thời gian quen biết và tìm hiểu. Đến năm 2018, cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố M theo Giấy chứng nhận kết hôn số 124/2018 ngày 05/7/2018. Sau khi kết hôn bà H và ông P chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, ông P không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình. Nay bà H xác định tình cảm không còn, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà H và Ông Nguyễn Hồng P có 01 con chung tên Nguyễn Hồng B N, sinh ngày 27/6/20xx. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà xác định không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn là Ông Nguyễn Hồng P trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông P thừa nhận quá trình chung sống, kết hôn, về con chung, về tài sản chung, nợ chung cũng như mâu thuẫn vợ chồng như bà H trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn yêu thương nhau. Nên nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý, nhưng ông P xin vắng mặt trong quá trình Tòa giải quyết vụ án. Về tài sản chung: Ông P xác định không có. Về nợ chung: Ông P xác định không có. Tại phiên tòa: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P có đơn xin vắng mặt. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà H và ông P là hợp pháp. Căn cứ trình bày của bà H cho thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận. Về con chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P có 01 con chung tên Nguyễn Hồng B N, sinh ngày 27/6/20xx. Cháu N hiện đang ở với mẹ và cũng có nguyện vọng sống với mẹ, ông P cũng đồng ý giao Cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của Bà Võ Thanh H. Bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: bà H và ông P khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P có đăng ký kết hôn. Tại thời điểm Bà Võ Thanh H yêu cầu ly hôn, Ông Nguyễn Hồng P có nơi cư trú tại phường B1, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Bà Võ Thanh H và bị đơn Ông Nguyễn Hồng P có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 124/2018 ngày 05/7/2018 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp và lời khai của nguyên đơn có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà H và ông P là hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và Ông Nguyễn Hồng P tự nguyện tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ông bà hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Hiện nay ông P và bà H cũng đã không còn chung sống với nhau, không còn yêu thương nhau, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông P đồng ý, nhưng ông xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng thì “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp … do yêu cầu của nghề nghiệp … và lý do chính đáng khác” và “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Như vậy, bà H và ông P đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng. Bà H yêu cầu ly hôn, Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, ông P có ý kiến đồng ý ly hôn nhưng xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Cho thấy, hôn nhân của bà H và ông P đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Võ Thanh H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P có 01 con chung tên Nguyễn Hồng B N, sinh ngày 27/6/20xx. Cháu N hiện đang ở với mẹ và cũng có nguyện vọng sống với mẹ, ông P cũng đồng ý giao Cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà H, giao trẻ Nguyễn Hồng B N cho Bà Võ Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. [3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P xác định không có, không yêu cầu, nên không xem xét. [4] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. [5] Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Thanh H phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Võ Thanh H về việc xin ly hôn với Ông Nguyễn Hồng P. 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thanh H được ly hôn với Ông Nguyễn Hồng P. Giấy chứng nhận kết hôn số 124/2018 ngày 05/7/2018 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố M cấp không còn giá trị. 1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P có 01 (Một) con chung là Nguyễn Hồng B N, sinh ngày 27/6/20xx. Giao trẻ Nguyễn Hồng B N cho Bà Võ Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Võ Thanh H không yêu cầu Ông Nguyễn Hồng P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con Tòa án có thể quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con của bà H khi bà H, ông P hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu. Bà H có quyền yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; yêu cầu ông P cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

1.4. Về nợ chung: Bà Võ Thanh H và Ông Nguyễn Hồng P xác định không có, nên không xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) Bà Võ Thanh H phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0076526 ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy, Bà Võ Thanh H đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ