- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình về thay đổi nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng : Các điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 439/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/08/2024 V/v thay đối người trực tiếp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Anh Vân
Bà Hồ Thị Việt Hòa.
- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Phong Thị Lan
Ngày 30 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 289/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi T.Y, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Phường C, quận C, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Khu TK phường V, quận Cn, thành phố Hải Phòng; Có mặt tại phiên tòa;
Bị đơn: Ông Đào MK, sinh năm 1984; Nơi đăng ký thường trú: Phường H, quận C, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số 1, ngõ 1 CN, phường CN 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Bùi T.Y trình bày:
Bà T.Y và ông Đào MK đã ly hôn từ năm 2019 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố Hải Phòng. Theo quyết định của Tòa án, cháu Đào KC, sinh ngày 08/08/2013 được giao cho ông MK trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác và các bên không ngăn cản bên kia thăm nom, gặp gỡ các con chung. Tuy nhiên, trước và sau khi ly hôn, ông MK và gia đình cản trở không cho bà T.Y gặp con. Bà T.Y không được gặp con ở nhà nên có tìm tới trường cháu Chi học để thăm con, nhưng ông MK đã đe dọa nhà trường sẽ cho cháu Chi nghỉ học và cho cháu chuyển trường. Do nhiều lần bị cản trở gặp con và con bị bạo hành tinh thần sau mỗi lần bà T.Y thăm gặp (ông MK đe ngay lập tức cho cháu nghỉ học) nên bà T.Y không dám tìm tới chỗ con học. Thời gian trước, bà T.Y thường xuyên nhắn tin trao đổi để xin gặp con nhưng ông MK đều dùng lời lẽ xấu xa để bôi nhọ danh dự của bà và không cho bà gặp con. Gần đây bà T.Y nhận được thông tin của Công an phường Hàng Kênh về việc cháu Chi bị bạo hành về tinh thần lẫn thể xác, bị nhốt ở ngoài sân tại nhà cháu ở với ông MKn tại số nhà 16, ngõ 310 Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm và không được ăn uống đầy đủ theo như hình ảnh và video bà đã nộp kèm theo đơn khởi kiện. Khi đến nhà ông MK, bà T.Y nhìn cháu Chi qua cửa thấy trên mặt cháu có dấu hiệu bị hành. Việc ông MK cản trở bà T.Y thăm nom, chăm sóc cháu Chi và nuôi dưỡng con không tốt, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần của cháu Chi. Bà T.Y thấy ông MK không còn đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chi.
Về điều kiện nuôi con : Bà T.Y sở hữu hai ngôi nhà tại quận C, thành phố Hải Phòng, là chủ một doanh nghiệp tư nhân chuyên về thương mại và tư vấn đầu tư bất động sản, có nguồn tài chính ổn định và có thời gian chăm sóc hai con. Bố mẹ đẻ của bà T.Y hiện cũng sinh sống cùng bà T.Y và đang cùng bà T.Y chăm sóc con nhỏ của ông MK, bà T.Y. Bà T.Y cũng có đầy đủ tinh thần và sức khỏe để có thể chăm sóc tốt hai con.
Yêu cầu khởi kiện của bà T.Y: Đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chi, giao cho bà T.Y được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào KC.
Bị đơn, ông Đào MK không đến Tòa án theo triệu tập, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
* Tại bản ghi ý kiến của Tòa án và đơn trình bày nguyện vọng, cháu Đào KC, sinh ngày sinh ngày 08/08/2013 có nguyện vọng được ở với mẹ là bà T.Y.
* Tại Văn bản thỏa thuận về việc nuôi con chung lập ngày 05/7/2024 tại Công an phường CN2 giữa ông Đào MK và bà Bùi T.Y, có sự chứng kiến của đại diện Đoàn Thanh niên phường Cổ Nhuế 2, ông MK, bà T.Y thỏa thuận: Ông MK giao cháu Chi cho bà T.Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên và cam kết: “cư xử văn minh, tôn trọng nhua, chung tay chăm sóc con chung Đào KC dể giúp con ổn định về tâm lý, thể chất mà không ai được ngắn cản”
Tại phiên tòa:
- Bà T.Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào KC, giao cháu Chi cho bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T.Y không yêu cầu ông MK phải cấp dưỡng nuôi con chung và không ngăn cản ông MK thăm nom hai con chung của ông bà.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ việc:
+ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ đầy đủ, đúng quy định. Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa đều được thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T.Y chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình, ông MK không chấp hành quy định về quyền và nghĩa vụ, từ chối thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các điều 70, 71, 72, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Giao cháu Đào KC, sinh ngày 08/08/2013 cho bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng, ông MK không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có sự thay đổi khác. Ông MK phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đào MK là bị đơn trong vụ án ở tại số 16, ngõ 310 Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại Điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc xét xử vắng mặt Ông MK: Ông MK đã được triệu tập hợp lệ làn thứ hai nhưng vắng mặt không lí do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông MK.
Về nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của bà T.Y:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng về việc công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận giữa bà Bùi T.Y và ông Đào MK, ông MK trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào KC, sinh ngày 08/8/2013, bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào MD, sinh ngày 17/9/2016 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Bà T.Y yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Chi vì bà T.Y cho rằng sau khi ly hôn, ông MK trực tiếp nuôi cháu Chi đã cản trở quyền thăm nom, chăm sóc cháu Chi của bà, bà không được thăm gặp cháu Chi được thể hiện tại các tin nhắn giữa hai bên, ông MK có biểu hiện ngược đãi cháu Chi mà bà đã được cơ quan Công an thông báo. Cháu Chi là trẻ em. Thông qua hình ảnh trong video bà T.Y cung cấp thấy việc nuôi dưỡng cháu Chi của ông MK không đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, điều kiện cho trẻ có sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần.
Tại Văn bản thỏa thuận về việc nuôi con chung lập ngày 05/7/2024 giữa ông Đào MK và bà Bùi T.Y. Ông MK, bà T.Y đã thỏa thuận: Ông MK giao cháu Chi cho bà T.Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Và cháu Chi có nguyện vọng được sống với mẹ.
Xét về quyền lợi mọi mặt của các con khi giao cho cha mẹ nuôi dưỡng sau li hôn thấy: Ông MK, bà T.Y đã tự thỏa thuận giao cháu Chi cho bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Chi có nguyện vọng được ở với mẹ là bà T.Y. Bà T.Y có chỗ ở, công việc, có thu nhập ổn định đủ để nuôi dưỡng hai con chung của ông MK, bà T.Y. Các con chung của ông MK, bà T.Y đều là con gái, sự chăm sóc, dạy dỗ từ người mẹ thuận lợi hơn và đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của các cháu. Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà T.Y giao cháu Chi cho bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T.Y không yêu cầu ông MK cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về án phí: Ông MK phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng : Các điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà Bùi T.Y với ông Đào MK.
3. Giao cháu Đào KC, sinh ngày 08/8/2013 cho bà T.Y trực tiếp nuôi dưỡng. Ông MK có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Ông MK ko phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khí có sự thay đổi khác
4. Về án phí : Ông MK phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà T.Y được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0021632 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
5. Về quyền kháng cáo : Bà T.Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ông MK có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Bắc Từ Liêm,; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - TAND, VKSND TP. Hà Nội; - UBND xã Hợp Tiến (Số 83/2017); - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |