vanban.org

Bản án 439/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn với ông Vũ Nhật Q. Về con chung: Giao cháu Vũ Nhật Quỳnh N, sinh ngày 13/4/2020 cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Vũ Nhật Q không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Lệ H xin ly hôn với ông Vũ Nhật Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan

2. Bà Vương Thị Khánh Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1549/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1994

Địa chỉ: ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Vũ Nhật Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ: 1, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H, ông Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2024, đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Vũ Nhật Q kết hôn năm 2017, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến khoảng từ cuối năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống nên thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến cãi vã. Đến nay giữa vợ chồng không thể hòa hợp với nhau được nữa, không tìm được tiếng nói chung để chăm lo cho gia đình. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt, bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Nhật Q.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Vũ Nhật Quỳnh N, sinh ngày 13/4/2020, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà yêu cầu ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 4.000.000 đồng/ tháng nhưng có đơn xin rút yêu cầu cấp dưỡng. Tạm thời bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Vũ Nhật Q nhưng ông Vũ Nhật Q vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông Q. Giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Bà H trình bày không có. Về án phí: bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Lệ H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho ông Vũ Nhật Q nhưng ông Vũ Nhật Q vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ H và ông Vũ Nhật Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 104/2017 ngày 15/6/2017 nên căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến khoảng từ cuối năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống nên thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến cãi vã. Đến nay giữa vợ chồng không thể hòa hợp với nhau được nữa, không tìm được tiếng nói chung để chăm lo cho gia đình. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt, bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Nhật Q. Qua xác minh tại địa phương cho biết việc mâu thuẫn vợ chồng bà H, ông Q như thế nào thì địa phương không nắm rõ vì các đương sự không có đơn yêu cầu địa phương can thiệp, hòa giải. Tuy nhiên, Tòa án cũng đã tiến hành triệu tập ông Vũ Nhật Q đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Vũ Nhật Q không đến, cho thấy ông Vũ Nhật Q không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này.

Xét thấy, vợ chồng bà H, ông Q hiện nay không còn sống chung, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên việc bà H xin ly hôn với ông Q là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ H, bà Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn với ông Vũ Nhật Q.

Về con chung: Bà H và ông Q có 01 con chung là cháu Vũ Nhật Quỳnh N, sinh ngày 13/4/2020. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị Lệ H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Vũ Nhật Q cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị Lệ H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Vũ Nhật Q cấp dưỡng nuôi con. Ông Vũ Nhật Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến gì về con chung, mặt khác cháu N là con gái, hiện nay cũng đang ở với mẹ, do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu N nên giao cháu N cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để tạo điều kiện ổn định phát triển về mọi mặt cho cháu N. Tạm thời ông Vũ Nhật Q không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày không có. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn với ông Vũ Nhật Q.

Về con chung: Giao cháu Vũ Nhật Quỳnh N, sinh ngày 13/4/2020 cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Vũ Nhật Q không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của ông Vũ Nhật Q.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về nợ chung: Không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004213 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Nguyễn Thị Lệ H đã nộp đủ án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ