vanban.org

Bản án 439/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị H.

Buộc bà Thạch Thị S trả tiền hụi cho bà Sơn Thị H số tiền 55.300.000 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2023/DS-ST
Ngày: 29 -9-2023
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Bài;

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 191/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 475/2023/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 352/2023/QĐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2023; giữa:

Nguyên đơn: Bà Sơn Thị H, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Bà Thạch Thị S, sinh năm 1979 (vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Thạch Thị C, sinh năm 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

2/ Trần Thị N, sinh năm 1979 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

3/ Thạch Thị Kim L, sinh năm 1982 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

4/ Thạch Thị Linh Đ, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

5/ Thạch Thị Kiều H1, sinh năm 1968 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: khóm E, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

6/ Thạch Thị C1, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

7/ Thạch Thị Sa B, sinh năm 1983 (vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

8/ Thạch Thị H2, sinh năm 1963 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các đơn khởi kiện ngày 03-6-2022 trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Sơn Thị H trình bày:

Ngày 09/01/2020 DL, bà có mở các dây hụi loại hụi 3.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có làm văn bản, bà có giao danh sách hụi viên cho hụi viên theo dõi, nữa tháng khui 01 lần, huê hồng đầu thảo hưởng 900.000 đồng/lần hốt, mỗi dây có 16 phần, bà Thạch Thị S tham gia 04 dây (dây 17, dây 18, dây 23 và dây 24), bà S bỏ thăm hốt hụi hết 04 dây này, hụi đã khui đến lần khui thứ 09, còn lại 07 lần khui mới mãn hụi, cụ thể:

Dây 17 Bà Thạch Thị S tham gia 02 phần, ở lần khui hụi thứ 03 bà S bỏ thăm kêu 2.100.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, lần khui thứ 08 bà S bỏ thăm kêu 2.000.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, cả 02 phần hụi bà đã giao tiền cho bà S nhận đầy đủ, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi bà S đóng hụi chết đến lần khui thứ 09, bà yêu cầu bà S trả lại tiền hụi đã nhận 07 lần bằng 13.300.000 đồng.

Dây 18: Bà Thạch Thị S tham gia 02 phần, ở lần khui hụi thứ 02 bà S bỏ thăm kêu 2.050.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, lần khui thứ 09 bà S bỏ thăm kêu 1.790.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, cả 02 phần hụi bà đã giao tiền cho bà S nhận đầy đủ, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi lần 9 bà S không đóng nữa, bà yêu cầu bà S trả lại tiền hụi đã nhận 07 lần bằng 15.120.000 đồng.

Dây 23: Bà Thạch Thị S tham gia 02 phần, ở lần khui hụi thứ 06 bà S bỏ thăm kêu 2.000.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, lần khui thứ 07 bà S bỏ thăm kêu 2.210.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, cả 02 phần hụi bà đã giao tiền cho bà S nhận đầy đủ, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi bà S đóng hụi chết đến lần khui thứ 09, bà yêu cầu bà S trả lại tiền hụi đã nhận 07 lần bằng 12.530.000 đồng.

Dây 24: Bà Thạch Thị S tham gia 02 phần, ở lần khui hụi thứ 02 bà S bỏ thăm kêu 2.100.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, lần khui thứ 08 bà S bỏ thăm kêu 1.850.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, cả 02 phần hụi bà đã giao tiền cho bà S nhận đầy đủ, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi bà S đóng hụi chết đến lần khui thứ 09, bà yêu cầu bà S trả lại tiền hụi đã nhận 07 lần bằng 14.350.000 đồng.

Tổng cộng các dây hụi nêu trên bà Thạch Thị S phải hoàn trả vốn cho bà với tổng số tiền là 55.300.000 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng).

Bị đơn bà Thạch Thị S đã được triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải hai lần vào các ngày 09-3-2023 và 20-7-2023 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng cùng có ý kiến trong bản tự khai và các văn bản ý kiến do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung: Ngày 09/01/2020 DL, bà Sơn Thị H có tổ chức khui các dây hụi, loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi dây có 16 phần, bà H úp hụi ở lần khui thứ 10, tất cả các dây hụi trên còn 07 lần khui nữa mới mãn hụi. Sau khi úp hụi chủ hụi và hụi viên có thanh toán xong 07 lần hụi sống ở các dây hụi trên. Tất cả hụi viên còn hụi sống cùng thống nhất để cho bà Sơn Thị H khởi kiện bà Thạch Thị S không có ai yêu cầu gì, để mọi người giải quyết sau với chủ hụi.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng có gồm: 04 danh sách hụi viên (photo); 01 chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu đình tên Sơn Thị H (photo); các văn bản ghi ý kiến của hụi viên và bản tự khai của hụi viên còn chưa hốt hụi (photo); chứng cứ Tòa án thu thập gồm: biên bản ghi lời khai của chị Kim Thị Đa N1 là người đại diện của bà Sơn Thị H, 04 biên bản đối chiếu nợ hụi ngày 12/01/2021 giữa bà Thạch Thị S và bà Sơn Thị H, tờ cam kết trả nợ của bà Thạch Thị S ngày 12/3/2021 (photo có đối chiếu bản gốc);

Những vấn đề các bên đương sự thống nhất và không thống nhất:

Do bà Thạch Thị S vắng mặt từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay nên không xác định được vấn đề các bên đã thống nhất và không thống nhất.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 468 và 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị H. Buộc bà Thạch Thị S trả tiền hụi của 07 lần hụi trong 04 dây hụi số 17,18, 23 và 24 tổng cộng bằng 55.300.000 đồng. Buộc bà Thạch Thị S chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có yêu cầu độc lập. Các đương sự không có mặt và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Sơn Thị H khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Đồng thời bị đơn bà Thạch Thị S cư trú tại ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên xác định đây là vụ án dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị C, chị Thạch Thị Linh Đ, bà Thạch Thị C1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Bị đơn và những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị Kim L, bà Thạch Thị H2, bà Thạch Thị Sa B, bà Thạch Thị Kiều H1 và chị Trần Thị N đã được triệu tập hợp lệ xét xử lần hai nhưng cả hai lần đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Sơn Thị H yêu cầu bà Thạch Thị S trả lại 07 lần tiền hụi đã nhận tổng cộng bằng 55.300.000 đồng ở các dây hụi số 17, 18, 23 và 24 loại hụi 3.000.000 đồng, mở cùng ngày 09/01/2020 DL, bà Sơn Thị H không yêu cầu tính lãi. Bà Thạch Thị S vắng mặt nên không có ý kiến.

Xét hợp đồng góp hụi giữa bà H với bà S là có thật. Trong năm 2019 và 2020 bà H làm chủ hụi của rất nhiều dây hụi, loại hụi khác nhau trong đó có dây hụi loại hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2020 DL có bà Thạch Thị S tham gia góp hụi. Đối với các dây hụi số 17, 18, 23 và 24 bà Thạch Thị S đã hốt. Đến kỳ khui hụi thứ 10 của các dây hụi này nhiều hụi viên không đến khui nên bà H là đầu thảo đã úp hụi. Lý ra sau khi úp hụi bà H và bà S ngồi lại đối chiếu tất cả hụi sống và chết để xác định ai thiếu ai bao nhiêu nhưng hai bên không thực hiện. Do bà H cho rằng bà S còn nợ bà các dây hụi số 17, 18, 23 và 24 nên bà H đã khởi kiện bà S tại Tòa án nhân dân huyện T vào năm 2021. Sau khi thụ lý vụ án giữa bà H và bà S có đối chiếu từng dây hụi và có lập biên bản đối chiếu nợ hụi đối với từng dây hụi này (bút lục 20-23). Bà S có viết cam kết trả nợ cho bà H, do thỏa thuận được với nhau và bà S hứa mỗi tháng trả cho bà H 500.000 đồng nên bà H rút đơn khởi kiện tạo điều kiện cho bà S trả dần. Tuy nhiên sau khi bà H rút đơn khởi kiện và Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án thì bà S không thực hiện như thỏa thuận, không trả cho bà H khoản tiền nào. Việc vi phạm này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà H nên bà H khởi kiện bà S là có căn cứ.

Ngoài ra các hụi viên cùng tham gia các dây hụi trên đều trình bày các dây hụi mà bà Sơn Thị H khởi kiện đã khui đến lần thứ 09, sang lần 10 bà H úp hụi các phần hụi sống giữa bà Sơn Thị H và hụi viên cũng đã giải thỏa thuận xong, nên mọi người thống nhất không yêu cầu giải quyết, để cho bà Sơn Thị H giải quyết với bà Thạch Thị S.

Từ những cơ sở nhận định trên và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị H bà S có nghĩa vụ trả cho bà H 55.300.000 đồng.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Thạch Thị S phải chịu theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Sơn Thị H không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, 147 và Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị H.

2. Buộc bà Thạch Thị S trả tiền hụi cho bà Sơn Thị H số tiền 55.300.000 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: Buộc bị đơn bà Thạch Thị S phải chịu 2.765.000 đồng án phí dân sự.

Bà Sơn Thị H không phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.382.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0011536 ngày 07-11-2022; của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bà Sơn Thị H.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ