vanban.org

Bản án 439/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/08/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2017/HC-ST ngày 09/8/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang

Chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại sơ thẩm theo thủ tục chung. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 439/2020/HC-PT Tuyên án 25/08/2020
Phúc thẩm Bản án 08/2023/HC-PT Tuyên án 05/01/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Lý Thị Bé T khởi kiện UBND huyện C"
  • Tòa quyết gì? Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2017/HC-ST ngày 09/8/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang
  • Căn cứ chính? Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2020/HC-PT
Ngày 25 - 8 - 2020
V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên;

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Huyền Vân;

Ông Vũ Ngọc Huynh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 531/2017/TLPT-HC ngày 23 tháng 11 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2017/HC-ST ngày 09 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 265/2019/QĐPT-HC ngày 18 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Lý Thị Bé T, sinh năm 1967

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Phạm Hoài N là luật sư Công ty Luật TNHH MTV hãng Luật Giải Phóng – Thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang

Địa chỉ: số 25/100, đường M, phường 4, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Lý Thị Bé T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai người khởi kiện bà Lý Thị Bé T trình bày:

Ngày 26/6/2009, bà T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 345332, tờ bản đồ số 38, thửa số 41, diện tích 4.824,2m2 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H05579.

Năm 2015 Nhà nước giải tỏa 01 căn nhà và đất của bà với diện tích 1.470,6m2 (đất CLN). Diện tích còn lại sau khi giải tỏa là phần đất 2.843m2 và một phần 510,6m2. Diện tích còn lại tổng cộng là 3.353,6m2. Từ trước đến nay Nhà nước chưa có quyết định thu hồi để làm công trình công cộng.

Đến tháng 4 năm 2015 bà dời căn nhà bị giải tỏa lên phần đất còn lại sau giải tỏa (phần diện tích 510,6m2) và có cho ba của bà và em gái bà là bà Lý Thị Bé M xây cất nhà trên đất này. Bà cất nhà là trên đất của bà chứ không có lấn kênh.

Ủy ban nhân dân huyện C cho rằng bà xây dựng trên hành lang của công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống lụt, bão. Đến ngày 26/4/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão. Ngày 10/5/2016 Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C lập biên bản triển khai quyết định số 32.

Bà T cho rằng bà xây dựng nhà ở trên diện tích đất sau khi Nhà nước giải tỏa, là không vi phạm phạm vi bảo vệ an toàn công trình thủy lợi.

Vì vậy, bà T yêu cầu hủy Quyết định hành chính số 32/QĐ-XPVPHC ngày 26/4/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều, phòng chống lụt, bão.

Yêu cầu bồi thường danh dự nhân phẩm cho bà. Về tinh thần phải bồi thường bằng tiền; Công khai xin lỗi tại địa phương: ấp Bình Trị, Trường THCS Đoàn Thị N, Phòng Giáo dục huyện C, chi phí đo đạc, chi phí đi lại, số tiền cụ thể bà T chưa xác định được.

Lý do:

- Quy trình làm việc của UB huyện C không đúng quy định pháp luật.

- Diện tích đo đạc không khớp nhau: Xã đo là 48,8m2, huyện đo 60,6m2, ngày 09/3/2016 đo không có bà ở nhà, không có những người tứ cận ký tên; tỉnh kết hợp với huyện đo thì dấu kết quả ngày 25/11/2015.

- Biến rạch thành kênh không có cơ sở.

- Bản vẽ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà thể hiện không có hành lang lộ giới, đất của bà tiếp giáp với con rạch chứ không phải là kênh.

- Định vị thửa đất sai.

- BOT là công ty tư nhân làm cống ngang l,5m không họp dân, UBND xã và huyện tự quyết.

- UBND huyện phạt bà theo công trình có quy mô lớn cấp quốc gia nên phạt 25.000.000 đồng.

- Ủy ban nhân dân huyện đưa ra pháp lý sai, làm sai quy trình.

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ông Nguyễn Văn Bằng trình bày:

Bà Lý Thị Bé T xây dựng công trình lấn chiếm đất công trình thủy lợi (kênh Cầu Đập) tại ấp Bình Trị, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Ngày 03/11/2015 Ủy ban nhân dân xã B lập biên bản vi phạm hành chính đối với bà T. Đến ngày 05/11/2015 Ủy ban nhân dân xã B ban hành Quyết định số 95/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2015 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà T về hành vi xây dựng công trình trái phép lấn chiếm đất nông nghiệp, hình thức xử phạt chính là phạt tiền 2.000.000 đồng, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc bà T phải dỡ bỏ phần diện tích xây dựng công trình trái phép lấn chiếm đất nông nghiệp.

Bà T không thực hiện Quyết định số 95/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã B và có đơn khiếu nại. Ngày 28/3/2015 Ủy ban nhân dân xã B ban hành Quyết định số 29/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 95/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2015 do nội dung Quyết định không đúng với thực tế với hành vi vi phạm của bà T. Ủy ban nhân dân xã B tiếp tục lập các thủ tục theo quy định đối với hành vi vi phạm thực tế trong việc xây dựng công trình, buộc bà T ngừng thi công công trình và trả lại hiện trạng ban đầu nhưng bà T không thực hiện.

Theo tờ trình số 20/2016/TTr-UBND ngày 21/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã B, bà T đã có hành vi xây dựng công trình trái phép trên phạm vi bảo vệ an toàn công trình thủy lợi (kênh cầu Đập).

Ngày 21/4/2016 Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C có tờ trình số 86/TTr-NN về việc xử lý vi phạm hành chính đối với bà Lý Thị Bé T.

Sau khi thẩm tra hồ sơ và khảo sát thực tế cho thấy việc bà T xây dựng công trình lấn chiếm đã làm hẹp dòng chảy, gây lấp đoạn kênh cầu Đập, nhiều hộ bên trong không sản xuất được, ngày 26/4/2016, UBND huyện C ban hành Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão đối với bà Lý Thị Bé T là đúng theo theo quy định của pháp luật.

Về vị trí con kênh thì có điểm đầu điểm cuối, không có việc biến rạch thành kênh.

Bà T cho rằng Ủy ban lập biên bản khống là không đúng vì Biên bản lập nhưng bà T không đồng ý ký tên, nhưng vẫn có những người khác chứng kiến ký tên.

Cống làm có chiều ngang l,5m tại kênh cầu Đập để khai thông dòng chảy, để dân canh tác, kích thước là do dân địa phương thỏa thuận.

Sau khi giải tỏa, bà T xây cất nhà lấn chiếm xuống con kênh, việc bà T cho ai ở trên đất là việc của bà T.

Do đó, UBND huyện C vẫn giữ nguyên Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC ngày 26/4/2016.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2017/HC-ST ngày 09 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

- Căn cứ: Điểm a Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 57, 68 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ.

+ Không chấp nhận khởi kiện của bà Lý Thị Bé T yêu cầu hủy Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC ngày 26/4/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C đối với bà Lý Thị Bé T về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống lụt, bão.

+ Không chấp nhận việc bà Lý Thị Bé T yêu cầu buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cái Lậy bồi thường thiệt hại về tinh thần, công khai xin lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng, trường học nơi bà công tác và tại chùa nơi bà T làm phật tử

- Căn cứ Khoản 2 Điều 67 Luật tố tụng hành chính: Hủy bỏ Quyết định số 06/2016/QĐ-BPKCTT ngày 14/9/2016 của Tòa án nhân dận tỉnh Tiền Giang về việc tạm đình chỉ thi hành Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC ngày 26/4/2016 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện C

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/8/2017 bà Lý Thị Bé T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện bà Lý Thị Bé T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu huỷ Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC ngày 26/4/2016 của Chủ tịch UBND huyện C và buộc Ủy ban nhân dân huyện C bồi thường thiệt hại về tinh thần và công khai xin lỗi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa phát biểu: Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa và các thành viên hội đồng xét xử, cũng như các đương sự đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Xét thấy tòa sơ thẩm chưa làm rõ một số vấn đề nên đề nghị Hội đồng xé xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ, vụ án đã được thẩm tra tại toà, qua kết quả tranh luận, nghe lời phát biểu của các đương sự của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên toà.

Về tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Tiền Giang có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 157, 158 Luật tố tụng hành chính xét xử vắng mặt.

Về đối tượng khởi kiện: Việc Toà án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án này là Quyết định số 32/QĐXPVPHC ngày 26/4/2016 (gọi tắt là quyết định 32) của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện C về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng cống lụt,bão là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính.

Về thẩm quyền: Theo Điều 32 Luật tố tụng hành chính, người khởi kiện khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định trên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa hành chính Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Về thời hiệu: Ngày 26/4/2016 Chủ tịch UBND huyện C ra Quyết định 32/QĐXPVPHC đối với bà T, đến ngày 10/5/2016 bà T nhận được quyết định trên. Do đó, ngày 20/6/2016 bà Lý Thị Bé T nộp đơn kiện yêu cầu huỷ Quyết định nêu trên là còn trong thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung:

Bà Lý Thị Bé T đại diện hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.824,2 m2. Khi làm tuyến tránh Quốc lộ 1A, phần đất trên bị giải tỏa có đền bù 1.470,6m2. Diện tích còn lại bị chia cắt thành 02 thửa, có diện tích lần lượt 510,6m2 và 2.843m2. Năm 2015 bà T tiến hành xây dựng nhà ở và kinh doanh trên phần diện tích 510,6m2, trong quá trình xây dựng ủy ban xác định công trình của bà T có lấn chiếm kênh công cộng. Ủy ban nhân dân xã B đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính nhưng bà T không thực hiện.

Ngày 26/4/2016 Chủ tịch UBND huyện C ra Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng cống lụt, bão đối với bà Lý Thị Bé T. Hình thức là phạt tiền 25.000.000 đồng, buộc tháo dỡ phần xây dựng trái phép trên phạm vi bảo vệ an toàn công trình thủy lợi diện tích 60,6m2.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ một số vấn đề như sau:

1/ Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T cho rằng bà cất nhà nằm hoàn toàn trong phần diện tích 510,6m2 thuộc thửa 337 của bà, chứ bà không lấn trên phần con kênh, Ủy ban xác định bà T đã lấn diện tích 60,6m2. Nhưng tòa sơ thẩm không tiến hành thẩm định tại chỗ để xác định diện tích đất tại thửa 337 của bà T để từ đó có cơ sở xác định căn nhà bà cất có vị trí hoàn toàn trên phần đất 510,6m2 thuộc thửa 337 hay không?

2/ Con kênh này có phải tên là kênh Cầu Đập không? Bà T cho rằng chỉ là con rạch không có tên chứ không phải là kênh Cầu Đập. Tại hồ sơ vụ án thể hiện chỉ có một tài liệu liệt kê các con kênh trong đó có kênh Cầu Đập, ngoài ra không có chứng cứ gì chứng minh con kênh mà ủy ban cho rằng bà T đã lấn chiếm có tên là kênh Cầu Đập.

3/ Bà T cho rằng ngày 21/4/2016 Ủy ban nhân dân xã B không có tiến hành đo đạc thực tế nhưng có biên bản kiểm tra hiện trạng công trình có ông Nguyễn Thanh Hồng, Nguyễn Văn Tới là người chứng kiến nhưng tòa sơ thẩm không triệu tập người chứng kiến để xác định có việc đo đạc thực tế hay không?

Do đó, xét thấy những vấn đề trên không thể bổ sung làm rõ tại phúc thẩm nên cần thiết phải huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ về cho toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Do bản án sơ thẩm bị huỷ, nên bà T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.

Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2017/HC-ST ngày 09/8/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang

Chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại sơ thẩm theo thủ tục chung.

2. Về án phí:

Về án phí hành chính sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Về án phí phúc thẩm: Bà Lý Thị Bé T không phải chịu án phí, được hoàn lại 300.000 bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 002104 ngày 17/8/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ