- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thế H, Vũ Đình N - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 438/2026/HSST Ngày: 16/7/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------------------------------------------------------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trung Hiếu
Bà Trịnh Thị Thu Hà
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở: Toà án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 404/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 720/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thế H, sinh ngày 24/4/1980 tại Hà Nội; CCCD số: 001080024867 do Cục C về TTXH cấp ngày 21/03/2023; Nơi thường trú: Thôn A, xã Ứ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Phạm Trung H1, sinh năm 1950; Họ tên mẹ: Trịnh Thị T, sinh năm 1954; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
+ Tại Bản án số 12/2003/HSST ngày 21/4/2003, Tòa án nhân dân Huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 12 tháng tù về tội Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tổng hợp hình phạt là 22 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 02/10/2004, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm. (đã xóa án tích).
+ Tại Bản án số 23/2016/HSST ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Bản án số 38/2016/HSPT ngày 29/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên Phạm Thế H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử: Miễn trách nhiệm hình sự.
+ Tại Bản án số 270/2020/HSST ngày 22/12/2020, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/01/2023, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm. (đã xóa án tích).
Tạm giữ: 28/3/2026; Tạm giam: 03/4/2026; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
2. Vũ Đình N, sinh ngày 06/9/1987 tại Hà Nội; CCCD số: 001087013391; Nơi thường trú: A B, phường H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: P chung cư N, phường Y, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Vũ Gia T1, sinh năm 1961; Họ tên mẹ: Thiều Thị Hồng V, sinh năm 1961; Có vợ là Nguyễn Thị Kiều N1 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Năm 2014, Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
+ Tại Bản án số 246/2019/HSST ngày 30/12/2019, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/01/2023, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm (đã xóa án tích).
Tạm giữ: 28/3/2026; Tạm giam: 03/4/2026; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Chị Phạm Trà M, sinh năm 2008; HKTT: E C, phường B, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Đào Xuân N2, sinh năm 2004; HKTT: KDC T, phường L, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992, HKTT: tổ dân phố T, phường L, thành phố Hải Phòng (Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công ăn việc làm ổn định, Phạm Thế H và Vũ Đình N rủ nhau đi trộm cắp tài sản để tiêu xài cá nhân. Khoảng 02h00 ngày 26/3/2026, Phạm Thế H điều khiển chiếc xe máy Honda Lead màu trắng mang biển kiểm soát 98B3-01126 đến nhà Vũ Đình N rủ N đi ăn đêm. Khi đi H mặc quần bò màu xanh phía sau có thêu chữ TB, đội mũ bảo hiểm màu da cam, có vành mũ màu xanh, có đề chữ AhaMove màu trắng, đi đôi giày thể thao màu trắng đen, có ghi chữ YONEX màu xanh, có dây buộc màu xanh còn N mặc chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn, đi đôi dép màu xanh, đội mũ lưỡi trai có họa tiết rằn ri. Khi H chở N đi đến khu vực tập thể H2 T, phường G, Hà Nội, H phát hiện thấy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng mang biển kiểm soát 29BA-02511 của chị Phạm Trà M (sinh năm: 2008, HKTT: E C, phường B, Hà Nội) không có ai trông giữ. H dừng xe bảo N đứng ở ngoài cảnh giới để H đi vào trộm cắp chiếc xe máy trên. H đi đến chỗ chiếc xe máy Honda Vision định dắt xe ra thì thấy xe khóa cổ, nên H dùng tay bẻ khóa cổ của xe, sau đó dắt xe ra chỗ N đứng chờ. H bảo N ngồi lên chiếc xe máy Honda Vision mình vừa trộm cắp được, còn H thì lái chiếc xe máy Honda Lead màu trắng biển kiểm soát 98B3-01126 đẩy N cùng chiếc xe máy Honda Vision vừa trộm về bãi xe chung cư N L, phường Y, Hà Nội để H gửi chiếc xe máy Honda Lead. Chiếc xe máy Vision vừa trộm cắp được, H và N dắt xe vào thang máy và đưa lên Phòng 501 nhà N tại chung cư N, Lê Văn L. Tại đây, N tháo biển kiểm soát của xe máy và cất giấu trong nhà, còn H tháo cụm ổ khoá của chiếc xe trên để mang đi sửa. Sau khi tháo xong ổ khóa điện, N mang chiếc xe máy trên xuống và cất tại bãi xe của toà nhà.
Đến 8h00 ngày 26/3/2026, H điều khiển chiếc xe máy Honda Winner màu đen không biển kiểm soát mang theo chiếc ổ khoá của chiếc xe máy Honda Vision đi từ nhà N đến khu vực Ngã Tư V1 và nhờ một người thợ sửa khoá (không rõ lai lịch) sửa ổ khoá cho H với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Đến 10h00 cùng ngày, thông qua các mối quan hệ xã hội, N tìm được người muốn mua chiếc xe máy Honda Vision với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tên là H3, số điện thoại 0583112824, dùng Zalo là “Thiên Ân” và hẹn giao dịch mua bán tại số D P, phường H, Hà Nội. Sau khi hai bên thống nhất giá và địa chỉ giao dịch thì N có báo lại cho H và được H đồng ý.
Đến 11h00 cùng ngày, H mang ổ khoá vừa sửa đến khu vực chung cư nhà N để lắp lại ổ khoá điện và đấu điện cho chiếc xe máy Honda Vision. Sau khi lắp ổ khóa xong, N điều khiển chiếc xe máy Honda Vision trên đến số D P, phường H, Hà Nội để bán xe. Đến khoảng 13h15 cùng ngày, khi N đang đứng tại bãi xe số D P, phường H, Hà Nội còn H đứng trước số A P, phường H, Hà Nội thì bị lực lượng Công an phường H kiểm tra. Tại chỗ, H và N khai nhận chiếc xe Honda Vision trên là tài sản do H và N vừa trộm cắp được đang mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ, tổ công tác Công an phường H đã lập biên bản đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
* Tang vật thu giữ của Vũ Đình N:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OnePlus Ace 2V màu đen có Imei 1: 864005066253158, số Imei 2: 864005066253141 bên trong lắp sim có số thuê bao 0946260246, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng không gắn biển kiểm soát có số khung: RLHJK0343RZ430711, số máy: JK03E6346247, xe đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai có họa tiết rằn ri đã qua sử dụng.
- 01 (một) đôi dép màu xanh đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn đã qua sử dụng.
* Tang vật thu giữ của Phạm Thế H:
- 01 (một) đôi giày (loại giày thể thao màu trắng - đen), có ghi chữ YONEX màu xanh, có dây buộc giày màu xanh.
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu da cam, có vành mũ màu xanh, có đề chữ AhaMove màu trắng.
- 01 (một) xe máy mang nhãn hiệu Honda Winner màu đen, không mang BKS, có SK: RLHKC4431RY001751, SM: KC46E5010753 đã qua sử dụng.
- 01 (một) quần bò màu xanh, phía sau có thêu chữ TB.
- 01 (một) chiếc xe máy mang nhãn hiệu Honda Lead màu trắng mang BKS: 98B3 - 011.26, có SM: JF45E-0530222, SK: RLHJF4516FY012093 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro màu xanh, số Imei 1: 865836053414984, I: 865836053414992 bên trong chứa Sim số điện thoại 0902256398, máy đã qua sử dụng.
Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét nơi ở của N tại P, chung cư N, L, phường Y, Hà Nội và thu giữ chiếc biển kiểm soát 29BA-02511.
Ngày 28/3/2026, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thế H, Vũ Đình N.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra làm rõ ngoài vụ trộm cắp tài sản chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, mang BKS: 29BA-02511 như trên cùng với Vũ Đình N thì Phạm Thế H một mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen, BKS: 34AB-072.04 của anh Đào Xuân N2 (SN: 2004, HKTT: KDC T, phường L, thành phố Hải Phòng) như sau:
Khoảng 01h00 ngày 30/12/2025, H đi bộ lang thang trên các tuyến phố để tìm sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước số B ngõ B N, phường L, Hà Nội (mặt sau là số 23 ngách D ngõ D H, phường L, Hà Nội), H phát hiện thấy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen, BKS: 34AB-072.04 đang dựng ở lề đường, không có người trông giữ. H lại gần kiểm tra thấy xe không khóa cổ, H đã dắt xe ra đường lớn, rồi thuê xe G đẩy và đưa chiếc xe trên về cất giấu tại bãi gửi xe chung cư N L, phường Y, Hà Nội. Ngày hôm sau, H đến tháo ổ khóa của xe đem đi sửa, đồng thời tháo vứt bỏ biển kiểm soát tại khu vực T (Hiển không nhớ địa chỉ cụ thể). Phạm Thế H khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nêu trên một mình, Vũ Đình N không tham gia và không biết chiếc xe trên do H trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Phạm Thế H xác định vị trí nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản vào ngày 30/12/2025 tại số B ngõ B N, phường L, Hà Nội (mặt sau là số 23 ngách D ngõ D H, phường L, Hà Nội).
Kết luận giám định 3657, 3660, 3656 ngày 23/4/2026 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận:
Xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, không đeo biển kiểm soát, có số khung: RLHJK0343RZ430711 và số máy: JK03E-6346247 là số nguyên thủy.
Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNNER, không đeo biển kiểm soát, có số khung: RLHKC4431RY001751 và số máy: KC46E-5010753 là số nguyên thủy.
Xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, đeo biển kiểm soát 98B3 - 011.26, có số khung: RLHJF4516FY012093 và số máy: JF45E-0530222 là số nguyên thủy.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL2026-HĐĐGTS, 04/KL2026-HĐĐGTS ngày 07/4/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – UNBD phường G kết luận:
01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng sản xuất năm 2024, số khung: RLHJK0343RZ430711, số máy: JK03E6346247 đã qua sử dụng có giá trị 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng)
01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen sản xuất năm 2024, có SK: RLHKC4431RY001751, SM: KC46E5010753 có giá trị 24.250.000 đồng (hai mươi tư triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)
Tại cơ quan điều tra, Vũ Đình N và Phạm Thế H đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Đối với đối tượng giao dịch mua xe với Vũ Đình N: Kết quả xác minh số điện thoại 0583112824, xác định chủ thuê bao mang tên Ngô Công T2 (SN: 1988; HKTT: Q, Q, tỉnh Thanh Hóa). Tiến hành triệu tập, làm việc với Ngô Công T2, T2 trình bày không sử dụng số điện thoại trên và không rõ lý do thông tin cá nhân của mình đăng ký cho số thuê bao này, hiện T2 đang làm công nhân tại xã T, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả điều tra xác định Ngô Công T2 không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với Ngô Công T2 là có căn cứ; Xác minh tài khoản mạng xã hội Zalo “Thiên Ân”, Công ty Cổ phần T3 có văn bản xác định không thể hỗ trợ cung cấp thông tin đăng ký, dữ liệu của tài khoản Zalo nêu trên. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ đối tượng đã thực hiện giao dịch mua xe máy với Vũ Đình N.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision màu trắng không gắn biển kiểm soát có số khung: RLHJK0343RZ430711, số máy: JK03E6346247 và BKS: 29BA-02511, Phạm Thể H4 và Vũ Đình N trộm cắp ngày 26/3/2026, xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Trà M, ngày 26/03/2026 chị M để chiếc xe máy trên tại sân tập thể H T, phường G, Hà Nội, sau đó bị mất trộm nhưng chị chưa kịp trình báo. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho chị M, chị M nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe máy Honda Winner mang BKS 34AB-07204 (thời điểm thu giữ không có biển kiểm soát) do Phạm Thế H trộm cắp ngày 30/12/2025, xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H2 (SN: 1992, HKTT: tổ dân phố T, phường L, TP .). Anh H2 cho cháu ruột là anh Đào Xuân N2 (SN: 2004, HKTT: KDC T, phường L, TP .) mượn để làm phương tiện đi lại. Trước đó, vào ngày 29/12/2025, anh N2 điều khiển chiếc xe máy trên đến địa chỉ số B ngõ B N, phường L, Hà Nội (mặt sau là số 23 ngách D ngõ D H) thì bị mất trộm tài sản, tuy nhiên anh N2 không đến Cơ quan Công an trình báo. Quá trình giải quyết, anh Nguyễn Văn H2 đề nghị Cơ quan điều tra trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đào Xuân N2. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, tiến hành trao trả chiếc xe máy trên cho anh N2, anh N2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng mang BKS: 98B3 - 011.26, có SM: JF45E-0530222, SK: RLHJF4516FY012093: H khai mượn của chị Lê Thị L1 (Sinh năm: 1976; HKTT: A G, phường G, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, chị L1 trình bày mua chiếc xe trên của một người không quen biết đầu năm 2026 tại khu vực T, phường V-Q, Hà Nội với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), khi mua không có giấy tờ xe. Ngày 25/3/2026, chị L1 cho Phạm Thế H mượn chiếc xe máy trên để làm phương tiện đi lại. Việc H sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản chị L1 không được biết và không biết nguồn gốc chiếc xe trên là xe trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị L1 là có căn cứ. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu BKS: 98B3 - 011.26 mang tên Nguyễn Văn H5 (Địa chỉ: K, Minh Đ, V, Bắc Giang); giám định xe có số khung: RLHJF4516FY012093 và số máy: JF45E-0530222 là số nguyên thủy với BKS 29D1-808.72 chủ sở hữu là chị Trần Hà P (Địa chỉ: D C TT Q, Phường B, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, chị P xuất trình đăng ký xe và trình bày: chị P mua xe trên năm 2015, đến ngày 10/11/2025 thì bị mất xe tại ngõ A G, phường G, Hà Nội nhưng không trình báo sự việc. Ngày 22/5/2026, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài tài liệu số 30853/QĐ-VPCQCSĐT đối với chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra làm rõ theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu trắng mang BKS: 98B3 - 011.26, có SM: JF45E-0530222, SK: RLHJF4516FY012093 cho chị Lê Thị L1, cơ quan điều tra không xác minh được căn cước, lai lịch vì vậy không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với các tang vật khác hiện đang được chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, thành phố Hà Nội để xử lý vật chứng theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS-KV1 ngày 16/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội truy tố Phạm Thế H, Vũ Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo H, N về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thế H; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đình N và đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thế H mức hình phạt từ 32 (ba mươi hai) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù giam, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đình N mức hình phạt từ 20 (hai mươi) tháng tù đến 24 (hai mươi tám) tháng tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OnePlus Ace 2V màu đen có Imei: 864005066253158, số Imei 2: 864005066253141, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro màu xanh, số Imei 1:865836053414984, Imei 2: 865836053414992, máy đã qua sử dụng. Tịch thu tiêu huỷ những vật chứng không có giá trị đã thu giữ của các bị cáo: 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai có họa tiết rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn đã qua sử dụng; 01 (một) đôi giày (loại giày thể thao màu trắng - đen), có ghi chữ YONEX màu xanh, có dây buộc giày màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu da cam, có vành mũ màu xanh, có đề chữ AhaMove màu trắng; 01 (một) quần bò màu xanh, phía sau có thêu chữ TB; 02 sim điện thoại. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về định tội và hình phạt:
Tại phiên toà, các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình N đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 04h00 ngày 26/3/2026, tại tập thể H2 T, phường G, Hà Nội, Phạm Thế H và Vũ Đình N đã có hành vi Trộm cắp của chị Phạm Trà M 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 29BA-025.11 có số khung: RLHJK0343RZ430711, số máy: JK03E6346247, tài sản có giá trị 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tài sản đã được thu hồi trao trả cho bị hại.
Ngoài ra, ngày 30/12/2025, tại ngõ B N, phường L, thành phố Hà Nội, Phạm Thế H đã có hành vi Trộm cắp của anh Đào Xuân N2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen BKS: 34AB-072.04, có SK: RLHKC4431RY001751, SM: KC46E5010753, tài sản có giá trị 24.250.000 đồng (Hai mươi tư triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tài sản đã được thu hồi trao trả cho bị hại.
Hành vi của các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội truy tố đối với các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình Nghĩa L2 đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm gia tăng tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phạm Thế H có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản và các tội phạm khác. Mặc dù các tiền án đã được xóa án tích nhưng điều đó thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hai lần hành vi trộm cắp tài sản độc lập, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Vũ Đình N, bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính và bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tuy tiền án đã được xóa án tích nhưng cũng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm:
Đối với vụ trộm cắp tài sản ngày 26/3/2026, đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Hai bị cáo có sự bàn bạc, thống nhất ý chí trước khi thực hiện hành vi phạm tội, cùng hướng tới mục đích chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài.
Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thế H là người khởi xướng việc đi trộm cắp tài sản, trực tiếp phát hiện tài sản, dùng sức bẻ khóa cổ xe, thực hiện hành vi chiếm đoạt, mang ổ khóa đi sửa, đấu nối hệ thống điện và điều hành việc tiêu thụ tài sản. Vì vậy, bị cáo H giữ vai trò chính, tích cực hơn.
Bị cáo Vũ Đình N tham gia với vai trò giúp sức tích cực thông qua việc cảnh giới, cất giấu xe, tháo biển kiểm soát, tìm người mua và trực tiếp điều khiển xe đi bán. Vai trò của N thấp hơn so với H nhưng vẫn là đồng phạm tích cực, do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tham gia của bị cáo.
Đối với vụ trộm cắp tài sản ngày 30/12/2025, bị cáo Phạm Thế H thực hiện hành vi phạm tội một mình, Vũ Đình N không tham gia và không biết nguồn gốc chiếc xe do H trộm cắp mà có.
Đối với bị cáo Phạm Thế H cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Vũ Đình N do giữ vai trò chính trong vụ án đồng phạm, đồng thời còn thực hiện thêm một vụ trộm cắp tài sản khác và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên".
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OnePlus Ace 2V của bị cáo Vũ Đình N, quá trình điều tra xác định bị cáo đã sử dụng điện thoại này để liên hệ qua tài khoản Zalo với người mua chiếc xe mô tô do phạm tội mà có, thỏa thuận việc mua bán và địa điểm giao dịch. Đây là phương tiện được sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro kèm sim của bị cáo Phạm Thế H, tại phiên tòa bị cáo khai sử dụng điện thoại này để liên hệ với bị cáo Vũ Đình N để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu huỷ những vật chứng không có giá trị đã thu giữ của các bị cáo: 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai có họa tiết rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn đã qua sử dụng; 01 (một) đôi giày (loại giày thể thao màu trắng - đen), có ghi chữ YONEX màu xanh, có dây buộc giày màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu da cam, có vành mũ màu xanh, có đề chữ AhaMove màu trắng; 01 (một) quần bò màu xanh, phía sau có thêu chữ TB; 02 sim điện thoại thu giữ của các bị cáo H, N.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc xe mô tô Honda Vision của chị Phạm Trà M và chiếc xe mô tô Honda Winner do anh Đào Xuân N2 quản lý, sử dụng hợp pháp, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho người có quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp. Những người bị hại đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Lead mang biển kiểm soát 98B3-011.26 mà bị cáo Phạm Thế H sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe có dấu hiệu là tài sản do phạm tội mà có; Cơ quan điều tra đã tách hành vi, tài liệu để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Đối với người sử dụng tài khoản Zalo "Thiên Ân" có giao dịch mua chiếc xe Honda Vision, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý khi có căn cứ là phù hợp.
Đối với chị Lê Thị L1 là người cho bị cáo H mượn xe Honda Lead, kết quả điều tra xác định chị L1 không biết chiếc xe có nguồn gốc phạm tội và cũng không biết việc H sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định.
Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; Quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 4 - Điều khoản chuyển tiếp của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 47, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thế H;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đình N;
1.
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thế H, Vũ Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thế H 32 (ba mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/3/2026.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình N 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/3/2026.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OnePlus Ace 2V màu đen có Imei: 864005066253158, số Imei 2: 864005066253141; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro màu xanh, số Imei 1:865836053414984, Imei 2: 865836053414992.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai có họa tiết rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo dài tay màu đen có hoa văn đã qua sử dụng; 01 (một) đôi giày (loại giày thể thao màu trắng - đen), có ghi chữ YONEX màu xanh, có dây buộc giày màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu da cam, có vành mũ màu xanh, có đề chữ AhaMove màu trắng; 01 (một) quần bò màu xanh, phía sau có thêu chữ TB; 02 sim điện thoại thu giữ của các bị cáo H, N.
Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Thi hành án dân sự - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 456/KV1-2026 ngày 17/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thành phố Hà Nội.
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - VKSND Khu vực 1 – Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Trại tạm giam; - Lưu hồ sơ, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |