vanban.org

Bản án 438/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/06/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của bà A về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Bà A được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Nguyên, sinh ngày 15/8/2013; Ông C không phải cấp dưỡng cho con. Ông C được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Hiền, sinh ngày 15/5/2012; Bà A không phải cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần yêu cầu của bà A về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 438/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2021
V/v tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Năm 2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 06 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 506/2020/TLST-HNGĐ ngày 9 tháng 06 năm 2020 về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 04 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 05 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà A; Hộ khẩu thường trú: đường B, phường B, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: đường D, khu phố D, phường D, quận D, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông C; địa chỉ: đường B, phường B, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ, nguyên đơn là bà A trình bày như sau: Theo bản án số 853/2017/HNGĐ-ST ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh thì bà được ly hôn với ông C, còn hai con chung tên Huỳnh Chí Nguyên, sinh ngày 15/8/2013 và Huỳnh Chí Hiền, sinh ngày 15/5/2012 thì Tòa án quyết định cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, ông C mang hai con giao cho ông, bà ngoại cư ngụ tại ấp Chà Và, xã Vĩnh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Vĩnh Long nuôi dưỡng. Ông, bà ngoại đã đăng ký tạm trú và cho hai con của bà đi học tại trường tiểu học Vĩnh Kim nhưng từ đó đến nay ông C không trợ cấp cho con. Riêng bà thì sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, đang ở nhờ nhà người khác, bà muốn dẫn hai con theo bà lên Thành phố sống chung nên yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu ông C cấp dưỡng cho mỗi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng.

Bị đơn là ông C có lời khai như sau: Từ ngày 15/7/2015, bà A bỏ nhà đi, ông là người nuôi hai con; đến tháng 8/2018 thì ông, bà ngoại các cháu có xin ông được đưa hai con về Trà Vinh sống chung nên ông đồng ý. Ông không đồng ý để bà A trực tiếp nuôi con vì bà A ở trên Thành phố không có việc làm ổn định, không có nơi ở ổn định.

Theo ý kiến của cháu Huỳnh Chí Nguyên thì cháu đang sống chung với ông bà ngoại và đang đi học ở quê, cháu không biết ba, mẹ đang ở đâu, đến tết thì mẹ có về thăm, còn ba thì không, nếu chọn giữa ba và mẹ thì cháu muốn sống với mẹ.

Theo ý kiến của cháu Huỳnh Chí Hiền thì cháu đang sống chung với ông bà ngoại và đang đi học ở quê, cháu không biết ba, mẹ đang ở đâu?, mẹ thì thường về thăm, còn ba thì hai năm mới về thăm lúc tết. Cháu muốn sống với mẹ nhưng cháu cũng đồng ý sống với ba nếu ba chuyển trường học về Thành phố, cháu và em Nguyên không hợp nhau, thường đánh nhau nên không muốn sống chung với em.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 8: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên, Tòa án có vi phạm về thời gian giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của bà A về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; cụ thể: Bà A được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Nguyên, sinh ngày 15/8/2013; ông C được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Hiền, sinh ngày 15/5/2012, các đương sự không phải cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà A có đơn khởi kiện tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xét thấy, bị đơn đang cư trú tại Quận 8 nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên phiên tòa tiến hành theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự .

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải căn cứ vào lợi ích của con. Từ ngày ly hôn đến nay, cả ông C lẫn bà A đều không trực tiếp nuôi con mà thực tế hai con đang được ông bà ngoại nuôi dưỡng. Theo lời khai của ông C thì việc hai con về sống chung với ông bà ngoại là do sự thỏa thuận giữa ông và ông bà ngoại của hai cháu. Hiện tại, bà A đang ở tại Thành phố Hồ Chí Minh, đang phải đi làm để kiếm sống và bản thân còn phải ở nhờ nhà người khác nên chưa đủ căn cứ cho rằng nếu giao hai con cho bà A nuôi dưỡng sẽ tốt hơn tình trạng hiện nay; cháu Hiền cũng muốn sống với cha, không muốn sống chung với cháu Nguyên; mặt khác, lý do mà bà A yêu cầu không hòa giải và xin vắng mặt tại phiên tòa là vì bà không dám gặp ông C, do đó, nếu giao hai con cho bà A trực tiếp nuôi có thể sẽ không đảm bảo về đời sống vật chất và tinh thần của hai trẻ, đồng thời ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của ông C; do đó,, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là giao con chung Huỳnh Chí Nguyên cho bà A nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Xét thấy, mỗi đương sự đều được trực tiếp nuôi một con chung, bà A có thu nhập mỗi tháng 12.000.000 đồng đã đủ lo cho bản thân và cháu Nguyên, bà A cũng không phải cấp dưỡng cho cháu Hiền nên chưa chấp nhận yêu cầu của bà A là buộc ông C cấp dưỡng cho cháu Nguyên.

Về án phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn chỉ được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của bà A về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Bà A được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Nguyên, sinh ngày 15/8/2013; Ông C không phải cấp dưỡng cho con.

Ông C được trực tiếp nuôi con tên Huỳnh Chí Hiền, sinh ngày 15/5/2012; Bà A không phải cấp dưỡng cho con.

[2] Về án phí Tòa án:

Bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0043721 ngày 04/06/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 8; bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ