vanban.org

Bản án 437/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Từ Thu P đối với ông Nguyễn Hữu K.

Về quan hệ hôn nhân Bà Hồ Từ Thu P được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K. Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01, ngày 16/4/2008 của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Nghiêm, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho bà Hồ Từ Thu P và ông Nguyễn Hữu K không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Từ Thu P đối với ông Nguyễn Hữu K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 437/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/4/2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Công Hợp

2. Bà Nguyễn Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu, cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1407/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Từ Thu P, sinh năm: 1985

Địa chỉ thường trú: Số ……. đường Lê Văn Q, khu phố 5, phường, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: Lầu 9-6B, khu A, Chung cư L, số 198A đường M, khu phố 6, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm: 1983

Địa chỉ thường trú: Số ……. đường Lê Văn Q, khu phố 5, phường, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: Số … Đường số …, khu phố 23, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 11 tháng 9 năm 2018 của bà Hồ Từ Thu P, và bản tự khai của đương sự tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Bà Hồ Từ Thu P là nguyên đơn trình bày: Bà và ông K tìm hiểu nhau từ năm 2005, đến năm 2008 tiến hành đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01, ngày 16/4/2008 tại Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Nghiêm, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn hai bên sống chung với nhau tại địa chỉ số 427/33A Lê Văn Quới, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân. Đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cao. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông K hay đi về khuya, có uống bia rượu, hay đập phá đồ đạc và có vài lần bạo hành với bà. Hai người tiếp tục duy trì sống chung đến năm 2017 thì cảm thấy không thể hòa hợp được nữa. Từ tháng 8/2017 cho đến nay, bà và ông K sống ly thân. Do không thể hàn gắn được với nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Hữu Kha, sinh ngày 23/09/2008 và Nguyễn Hồ Kha Thy, sinh ngày 17/05/2012. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Hồ Kha Thy và đồng ý giao trẻ Nguyễn Hữu Kha cho ông Nguyễn Hữu K trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay bà đang làm việc tại Công ty cổ phần Viễn Thông Sài Gòn, thu nhập thực nhận mỗi tháng là 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian làm việc của bà từ Thứ 2 đến Thứ 7, buổi sáng bắt đầu lúc 8 giờ 30 phút và buổi chiều kết thúc lúc 17 giờ 30 phút nên bà có thể thu xếp được việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con cái của bà.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà P xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà P xác nhận không có.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bên vẫn giữ nguyên ý kiến và có đơn xin vắng mặt. Riêng bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Về thời hạn chuẩn bị xét xử: không đảm bảo đúng thời hạn xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P và giao mỗi người nuôi một con chung, ghi nhận ý kiến của bà P về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: xin tự thỏa thuận và nợ chung xác nhận không có nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét qua đơn xin ly hôn của bà Hồ Từ Thu P, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”. Bị đơn ông Nguyễn Hữu K có nơi cư trú tại Số 48C đường số 22, khu phố 23, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Hồ Từ Thu P có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Hữu K vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 và điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông K là phù hợp.

Mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Hữu K đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng ông K không đến tòa và cũng không cung cấp ý kiến cho tòa án. Có nghĩa là, bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

Về nội dung: Căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01, ngày 16/4/2008 của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Nghiêm, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi cùng lời khai của nguyên đơn về việc tự nguyện kết hôn với nhau nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà P, ông K là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét qua yêu cầu xin ly hôn bà Hồ Từ Thu P đối với ông Nguyễn Hữu K. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, qua lời trình bày của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống, vợ chồng bà P, ông K đã phát sinh mâu thuẫn trong một thời gian dài. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời trình bày của bà P là do ông K hay đi về khuya, có uống bia rượu, hay đập phá đồ đạc và có vài lần bạo hành với bà. Những mâu thuẫn này kéo dài từ năm 2014 đến năm 2017 nhưng hai bên cũng không có hướng giải quyết nên vợ chồng bà P đã sống ly thân với nhau. Tòa án cũng đã triệu tập ông K đến Tòa để ông K thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bị đơn cũng như đã mở phiên hòa giải để tạo cơ hội cho bà P, ông K hàn gắn tình cảm nhưng ông K không đến tòa, không thể hiện thiện chí hòa giải với bà P. Như vậy, hai bên không đảm bảo được “tình nghĩa vợ chồng” theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông K đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà P yêu cầu được ly hôn với ông K, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Hữu Kha, sinh 23/09/2008 và Nguyễn Hồ Kha Thy, sinh ngày 17/05/2012. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Hồ Kha Thy và bà đồng ý giao trẻ là Nguyễn Hữu Kha cho ông Nguyễn Hữu K trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét trẻ Nguyễn Hồ Kha Thy hiện đang sống ổn định cùng mẹ, trẻ Thy là con gái, còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Bà P có việc làm ổn định, có thời gian và khả năng tài chính đảm bảo việc nuôi trẻ Thy. Trẻ Nguyễn Hữu Kha hiện đang sống ổn định cùng cha, trẻ Kha là con trai, rất cần sự chăm sóc, dạy dỗ của người cha và trẻ Kha cũng có nguyện vọng sống cùng với cha. Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà P về việc được nuôi trẻ Thy và giao trẻ Kha cho ông K nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà P xác nhận tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà P xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Hồ Từ Thu P chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 2, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 19, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Từ Thu P đối với ông Nguyễn Hữu K.

Về quan hệ hôn nhân Bà Hồ Từ Thu P được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01, ngày 16/4/2008 của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Nghiêm, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho bà Hồ Từ Thu P và ông Nguyễn Hữu K không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hữu Kha, sinh 23/09/2008 cho ông Nguyễn Hữu K trực tiếp nuôi dưỡng và giao trẻ Nguyễn Hồ Kha Thy, sinh ngày 17/05/2012 cho bà Hồ Từ Thu P trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Bà Hồ Từ Thu P và ông Nguyễn Hữu K có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, sau này bà P, ông K đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà P xác nhận tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về nợ chung: Bà P xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

5. Về án phí: Bà Hồ Từ Thu P chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Hồ Từ Thu P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030361 ngày 20/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hồ Từ Thu P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ