vanban.org

Bản án 436/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 26/09/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn L, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Dương Văn L. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện Quyết định hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn L, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 436/2022/HC-PT
Ngày: 26/9/2022
V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành chính về
quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trọng;

Các thẩm phán

Ông Nguyễn Hồng Nam;

Ông Thái Duy Nhiệm.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số: 422/2021/TLPT-HC ngày 15 tháng 10 năm 2021 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất”. Do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 8772/2022/QĐ-PT ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Dương Văn L, sinh năm 1958; trú tại: Thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Hoàng Văn T, ông Đỗ Thành H1 – Luật sư Văn phòng Luật sư T1, Đoàn luật sư thành phố H2; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức N, chức vụ: Phó chủ tịch; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; Địa chỉ: Thị trấn V, huyện L1, tỉnh H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy H3, chức vụ: Phó chủ tịch UBND; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1961; trú tại: Thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; vắng mặt.

- Chị Dương Thị Minh T2; nơi cư trú: Thôn N1, xã Đ, huyện L1, tỉnh H; vắng mặt.

- Anh Dương Minh Q; nơi cư trú: Thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; vắng mặt.

- Anh Dương Việt L2; nơi cư trú: Thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C, chị T2, anh Q, anh L2: Ông Dương Văn L, sinh năm 1958; trú tại: Thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản trình bày ý kiến của các đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hộ gia đình ông Dương Văn L ở thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U322607 ngày 21/11/2001 tờ bản đồ số PL5 thửa số 9(13) có diện tích 1.047m2; tờ bản đồ số PL5 tại thửa số 4(11) có diện tích 519m2 đất nông nghiệp. Năm 2012, Nhà nước thu hồi 423,3m² tại tờ bản đồ số PL5 thửa số 9(13) và tờ bản đồ số PL5 tại thửa số 4(11) có diện tích 172,6m2 của hộ gia đình ông Dương Văn L để thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường đấu nối ĐT.491 với ĐT.499 phục vụ cứu hộ cứu nạn đê sông Hồng, huyện L1. Như vậy, diện tích còn lại của gia đình ông L là 623m2 tại tờ bản đồ số PL5 tại thửa số 9(13). Năm 2019, diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình ông Dương Văn L nằm trong diện thu hồi để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V (giai đoạn 2) diện tích thu hồi là 623m2. Ngày 13/9/2019, UBND huyện L1 ban hành Thông báo thu hồi đất số 745/TB-UBND đối với hộ ông Dương Văn L. Ngày 12/02/2020, UBND huyện L1 ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với hộ ông Dương Văn L, diện tích thu hồi đất nông nghiệp là 623m2 tại thửa số 9, tờ bản đồ số PL5 và Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2), trong đó có hộ ông Dương Văn L số tiền phê duyệt là 127.092.000 đồng, đồng thời mời hộ ông Dương Văn L nhận tiền theo phương án được duyệt và bàn giao mặt bằng theo quyết định nhưng ông Dương Văn L không nhận. Ngày 29/5/2020, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3049 cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đối với hộ ông L. Ngày 24/11/2020, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Quyết định số 7089/QĐ-UBND về việc điều chỉnh thời gian cưỡng chế thu hồi đất, Quyết định số 3049 ngày 29/5/2020. Ngày 09/12/2020, Ban cưỡng chế thực hiện thu hồi đất đã tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Dương Văn L.

Người khởi kiện: Ông Dương Văn L không nhất trí với quy trình thực hiện thu hồi đất để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2) bởi lẽ UBND huyện L1 đã thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi trái quy định pháp luật. Mặt khác ông không nhất trí với phương án bồi thường của UBND huyện L1 vì mức giá bồi thường 60.000đ/m2 là không hợp lý. Nên ngày 01/02/2021, ông Dương Văn L khởi kiện và bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh H giải quyết: Hủy Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2); hủy Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2); hủy Quyết định số 3049/QĐ-UBND ngày 29/5/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất để giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2).

Phía người bị kiện trình bày: Thực hiện chủ trương thu hồi đất; các văn bản của tỉnh H đồng ý về chủ trương thực hiện công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2); UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền tiến hành công tác giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án trong đó có hộ ông Dương Văn L. Việc thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do hộ ông Dương Văn L không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thu hồi và không bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án nên phải tổ chức cưỡng chế đảm bảo công khai, đúng trình tự. Nay ông Dương Văn L khởi kiện không có căn cứ, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh H giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị trấn V có quan điểm: UBND thị trấn V đã phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L1, Hội đồng giải phóng mặt bằng và tổ công tác giải phóng mặt bằng thực hiện bàn giao, niêm yết công khai Thông báo thu hồi đất, Quyết định thu hồi đất, Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất; tổ chức hội nghị công bố quy hoạch, triển khai kế hoạch, chế độ chính sách tới các hộ dân nằm trong phạm vi giải phóng mặt bằng của dự án có diện tích đất bị thu hồi theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy đề nghị Tòa án tỉnh H căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh H đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 58, 62, 66, 67, 68, 69 và 71 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 158, Điều 115, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn L đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh H giải quyết: Hủy Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc thu hồi đất; Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; Quyết định số 3049/QĐ-UBND ngày 29/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L1, tỉnh H về việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 06/9/2021, người khởi kiện là ông Dương Văn L có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Dương Văn L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng hồ sơ pháp lý Dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (Giai đoạn 2) tại xã Đồng Lý không có quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh theo quy định tại điều 32 Luật Đầu tư 2014; UBND huyện L1 đã không công khai các văn bản pháp lý liên quan đến dự án; không ban hành thông báo thu hồi đất; UBND xã Đông Lý đã có giấy mời gửi các hộ dân về việc tổ chức hội nghị chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng dự án khi chưa có Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án; không tiến hành việc công bố công khai đồ án quy hoạch theo quy định tại Điều 53 Luật Quy hoạch đô thị 2018; không tổ chức lấy ý kiến về quy hoạch sử dụng theo đúng quy định trước khi có Quyết định số 819/QĐ-UBND của UBND tỉnh H về phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu nhà ở thị trấn V, huyện L1, tỉnh H ngày 20/6/2012.

Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của UBND huyện L1 thu hồi 172,6m2 đất chuyên trồng lúa nước của hộ ông Dương Văn L là đúng nhưng do quy trình ban hành Quyết định thu hồi đất của người dân là không đúng các quy định của pháp luật dẫn đến Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của UBND huyện L1 về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng; Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của UBND huyện L1 về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; Quyết định số 3049/QĐ-UBND ngày 29/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện L1 về việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất để giải phóng mặt bằng dự án Đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn 2) đối với hộ ông Dương Văn L là trái pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông để UBND huyện L1 xem xét nâng mức bồi thường về đất cho gia đình ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về vụ án: Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện của những người bị kiện đã đảm bảo trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nội dung các quyết định có căn cứ. Quá trình tham gia tố tụng ông L thừa nhận việc gia đình ông có nghe được thông tin về thu hồi đất trên loa truyền thanh của thị trấn và tại các cuộc họp liên quan đến việc triển khai thực hiện dự án nên kháng cáo cho rằng UBND huyện L1 có sự mập mờ, không minh bạch trong việc thu hồi đất, cũng như công khai các văn bản pháp lý liên quan đến dự án là không có cơ sở.

Đối với đề nghị UBND huyện L1 xem xét nâng mức bồi thường về đất của người khởi kiện không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án này nên không có cơ sở xem xét.

Tòa án sơ thẩm bác các yêu cầu khởi kiện của ông L là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Tại đơn khởi kiện và văn bản trình bày ý kiến, ông Dương Văn L yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính của UBND huyện L1 trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định về việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện L1, tỉnh H nên Tòa án nhân dân tỉnh H thụ lý, giải quyết sơ thẩm vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 3; Điều 30; khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Tòa án sơ thẩm xác định về đối tượng khởi kiện, về thời hiệu khởi kiện, về quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đúng quy định pháp luật. Việc chứng minh, thu thập chứng cứ đã được thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định tại chương VI Luật tố tụng hành chính.

Đơn kháng cáo của người khởi kiện thực hiện trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn II – Đợt 4) đã được Hội đồng nhân dân tỉnh H phê duyệt theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013: Ngày 20/01/2012, Chủ tịch UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 321/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thị trấn V, huyện L1, tỉnh H. Tiếp theo ban hành Quyết định số 819/QĐ-UBND ngày 20/6/2012 về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu nhà ở thị trấn V, huyện L1, tỉnh H với tổng diện tích 19,1 ha; Văn bản số 1596/UBND-GTXD ngày 21/9/2012 về việc chấp thuận nhà đầu tư thực hiện dự án làm 02 giai đoạn (giai đoạn I là dự án đầu tư xây dựng phía Nam tuyến đường ĐT.491; giai đoạn II xây dựng phía Bắc đường ĐT.491); Quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 22/4/2013 về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu nhà ở thị trấn V; Văn bản số 295/UBND-GTXD ngày 01/02/2018; Quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 12/4/2018 về việc phê duyệt đề xuất dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở phía Đông thị trấn V, huyện L1 (giai đoạn II); Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh H khóa XVIII - Kỳ họp thứ 7 về các dự án thu hồi đất và các dự án chuyển mục đích sử dụng dưới 10ha đất trồng lúa năm 2019 và bổ sung năm 2018 trên địa bàn tỉnh H và Quyết định số 334/QĐ-UBND ngày 22/02/2019 của UBND tỉnh H phê duyệt kế hoạch sử dụng đất huyện L1 năm 2019.

[3] Căn cứ vào các quyết định nêu trên, UBND huyện L1 ban hành Quyết định số 5223/QĐ-UBND ngày 22/8/2019 về việc thành lập Hội đồng và tổ công tác giúp việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư để thực hiện giải phóng mặt bằng cho dự án. Ngày 13/9/2019, UBND huyện L1, tỉnh H ban hành Thông báo số 745/TB-UBND để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V đối với hộ ông Dương Văn L. Ông L kháng cáo cho rằng gia đình ông không nhận được Thông báo số 745/TB- UBND về thu hồi đất nêu trên. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và ý kiến tại phiên tòa của người đại diện cho UBND thị trấn xác định thông báo thu hồi đất của các hộ dân được thực hiện niêm yết công khai; phát toàn bộ nội dung thông báo trên đài phát thanh của thị trấn; giao cho người dân nên các hộ dân đều nắm được. Trong đó có hộ dân nhận thông báo thu hồi đất nhưng không ký biên bản, có hộ thì do ông Thành trưởng thôn ký hộ. Phía ông L cũng xác định có biết nội dung thông báo thu hồi đất, ký nhận biên bản kiểm đếm nhưng chưa nhận thông báo. Như vậy, việc gia đình ông L không nhận được thông báo thu hồi đất thì quyền lợi của gia đình ông không bị ảnh hưởng.

[4] Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L1 phối hợp với UBND xã Đồng Lý; thôn 1 M tiến hành kiểm đếm tài sản trên đất đồng thời xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án. Tại biên bản kiểm đếm ngày 24/9/2019, ông L đã ký vào biên bản đồng thời đề nghị tăng giá bồi thường và đăng ký được mua suất đất trong dự án với giá ưu đãi. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L thừa nhận gia đình bà đã nắm được và đồng tình với chủ trương thu hồi 623m2 đất của gia đình để thực hiện dự án nhưng chưa nhất trí về đơn giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nên không ký nhận thông báo. Như vậy, kháng cáo của ông L cho rằng UBND huyện L1 ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 về thu hồi của gia đình ông diện tích 623m2 đất thuộc thửa số 9, tờ bản đồ số PL5 tại thôn 1 M, thị trấn V, huyện L1, tỉnh H được UBND huyện L1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U322607 ngày 21/11/2001 để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở phía Đông thị trấn V (giai đoạn II) có dấu hiệu mập mờ, mục đích thực hiện dự án không rõ ràng, việc thu hồi đất diễn ra không minh bạch, không khách quan có dấu hiệu không đúng với quy định của pháp luật là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Đây là trường hợp thu hồi đất phục vụ mục đích kinh tế, xã hội quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013 và diện tích đất thu hồi của hộ gia đình ông L là đất nông nghiệp nên việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định số 38/2014/QĐ-UBND ngày 12/9/2014 của UBND tỉnh H quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh H; Quyết định số 49/2014 ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh H về ban hành đơn giá bồi thường cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 48/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh H về việc quy định tạm thời bảng giá các loại đất giai đoạn năm 2020-2024 trên địa bàn tỉnh H; Quyết định số 113/QĐ-UBND ngày 09/01/2020 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt giá đất cụ thể làm căn cứ để bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh H từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/6/2020.

[6] Do gia đình ông ông L không hợp tác, không nhận tiền bồi thường với lý do giá bồi thường về đất là thấp và đề nghị mức giá cao hơn, không bàn giao mặt bằng nên để đảm bảo tiến độ Dự án, ngày 29/5/2020, Chủ tịch UBND huyện L1, tỉnh H ban hành Quyết định số 3045/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Dương Văn L, việc tổ chức thi hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

[7] Như đã phân tích, việc UBND huyện L1, Chủ tịch UBND huyện L1, tỉnh H ban hành và thực hiện các quyết định thu hồi đất; quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ; quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Dương Văn L là đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền quy định tại Điều 62, 63, 69, 71 Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của UBND tỉnh H về thu hồi, bồi thường khi thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Do đó, Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của người khởi kiện.

[8] Kháng cáo không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật nhưng xét thấy ông L là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông L.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn L, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2021/HC-ST ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

2. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Dương Văn L.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ