- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN VĂN H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 436/2019/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị A
2. Bà Tiêu Kim Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thi Thảo Sương- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hòa, sinh năm 1972
Địa chỉ: 7/3/4/31 đường T, Phường H, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Ngô Thị Tuyết A, sinh năm 1974
Địa chỉ: 7/3/4/31 đường T, Phường H, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2019, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và bà Ngô Thị Tuyết A tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường H, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 59, quyển số 01, ngày 16/10/1995.
Giữa ông và bà Tuyết A tuy tự nguyện kết hôn nhưng vợ chồng chung sống lại không hạnh phúc, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân do bà A là vợ nhưng không lo chăm sóc chồng con và không quan tâm đến mọi công việc của gia đình. Vợ chồng sống chung nhà nhưng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, từ đó mâu thuẫn lại càng thêm trầm trọng. Từ đầu năm 2019, bà A đã bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên ông yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Ông H khai, giữa ông và Tuyết A chung sống có hai con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 20/4/1996 và Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 24/11/2004. Anh H đã trưởng thành và tự quyết định cuộc sống của mình nên ông chỉ yêu cầu nuôi còn Anh T và không yêu cầu bà Tuyết A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có
Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cho bà Tuyết A nhưng bà Tuyết A vắng mặt không có lý do.
Ngày 22/7/2019, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cho bà Tuyết A nhưng bà A vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật, đầy đủ.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa ông H và bà Tuyết A là “Tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn bà Ngô Thị Tuyết A có địa chỉ cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà A
2. Về yêu cầu của nguyên đơn:
- Xét yêu cầu xin ly hôn:
Hội đồng xét xử nhận thấy, ông H và bà A đã sống ly thân, ông H đã thật sự không còn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, bà A đã được Tòa án tống đạt thông báo hòa giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến nào gửi cho Tòa án về việc ông H xin ly hôn. Như vậy, bà A cũng không còn quan tâm, thiết tha đến cuộc sống hôn nhân này nữa nên tình cảm vợ chồng giữa ông H và bà A không còn khả năng đoàn tụ, nên yêu cầu xin ly hôn của ông H là có căn cứ.
- Về con chung: Giữa ông H và bà A chung sống có hai con chung, tuy nhiên con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 20/4/1996, hiện nay đã thành niên. Ông H yêu cầu được nuôi con Anh T là phù hợp với nguyện vọng của trẻ nên Hội đồng xét xử xem xét giao trẻ Nguyễn Ngọc Anh T cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông H phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Ngô Thị Tuyết A.
- Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 24/11/2004 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Bà Ngô Thị Tuyết A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Các đương sự thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai không có
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, Ông Nguyễn Văn H chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0017073 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q10; - UBND Phường H, Quận K (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan |