vanban.org

Bản án 435/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 23/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan là ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tuyên bố: Lê Thị Thảo N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thảo N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 435/2023/HS-PT
Ngày: 23/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Tấn Trường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Chí Công

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà

Nẵng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 374/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 ối v i bị cáo Lê Thị Thảo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo: Lê Thị Thảo N, sinh ngày 03/03/1994 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú:

K984/8 Q, tổ F phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Kinh doanh bất ộng sản; trình ộ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công T (c) và bà Nguyễn Thị H2 (s); gia ình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022, có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Thái Quốc V1 – Công ty L1,

thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thái V2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: 19 Phó Đ, quận

S, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Thái V2: Luật

sư Phạm Lý H3 - Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

1/ Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: 223 ường N,

phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

2/ Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1970. Nơi cư trú: 22 ường P, phường T,

thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Huỳnh Minh T1, có mặt.

3/ Bà Nguyễn Thị Thạch B, sinh năm 1986. Nơi cư trú: 44 ường N,

phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

4/ Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: tổ C, phường T, thành

phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà B và ông H: Luật sư

Trương Công S - Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần Đ ( ịa chỉ tầng A, số E N, quận H, tp Đà Nẵng) ược

thành lập ngày 24/10/2018. Đến ngày 09/10/2020, Công ty ổi tên thành Công ty Cổ phần Đ1, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn, môi gi i, ấu giá bất ộng sản, ấu giá quyền sử dụng ất.

Lê Thị Thảo N là trưởng phòng kinh doanh của Công ty Đ, ến tháng

12/2018 N ược bổ nhiệm làm Giám ốc Công ty Đ - Chi nhánh Q. Trong quá trình làm việc, N ã tư vấn cho nhiều khách hàng mua bất ộng sản FLC của Công ty Cổ phần T3, N có trách nhiệm ôn ốc khách hàng óng tiền tiến ộ dự án theo thông báo của chủ ầu tư FLC. Đến tháng 01/2021, do thua lỗ trong làm ăn, mặc dù không có thông báo của chủ ầu tư FLC, nhưng N ã ưa ra thông tin gian dối yêu cầu khách hàng chuyển tiền tiến ộ dự án ể chiếm oạt sử dụng vào mục ích cá nhân, cụ thể:

1. Chiếm oạt của ông Nguyễn Thái V2 (sinh năm 1985, trú tại A Đ, quận

S, tp Đà Nẵng) số tiền 3.172.566.899 ồng.

Tháng 11/2018, Lê Thị Thảo N, lúc này là Trưởng phòng kinh doanh của

Công ty Đ ã gi i thiệu, tư vấn cho ông Nguyễn Thái V2 ký hợp ồng ặt chỗ v i Công ty Đ và ặt cọc số tiền 100.000.000 ồng ể mua bất ộng sản ký hiệu IV-SH.03.01 ối v i dự án trên. Thông qua Công ty Đ, ngày 06/12/2018, anh V2 ã ký văn bản thỏa thuận ồng ý trả tiền chi phí, dịch vụ gi i thiệu, tư vấn các thông tin cho Công ty TNHH T3 ( ịa chỉ thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) v i số tiền 793.880.000 ồng. Sau khi ký văn bản thỏa thuận này, Công ty Đ ã nhiều lần thu tiền tiến ộ của ông Nguyễn Thái V2 v i tổng số tiền là 2.457.522.000 ồng và ã nộp về cho Công ty TNHH T3.

Đến tháng 12/2018, Lê Thị Thảo N ược bổ nhiệm làm giám ốc Công ty

Cổ phần Đ - Chi nhánh Q (Công ty con của Công ty Đ), ến tháng 10/2020 Công ty này tạm ngừng hoạt ộng và Công ty Đ ã có thông báo cho Lê Thị Thảo N nộp lại con dấu của Công ty nhưng N không thực hiện. Do làm ăn thua lỗ và biết ông V2 ã ký hợp ồng mua bất ộng sản dự án FLC Q, nên tháng 4/2021 Lê Thị Thảo N ã iện thoại yêu cầu anh V2 óng tiền tiến ộ ể ược hưởng chiếc khấu của chủ ầu tư. Tin lời N nói, từ tháng 4/2021 ến ngày 13/5/2021, ông V2 ã chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Đ - Chi nhánh Q và tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N số tiền tổng cộng 3.172.566.889 ồng. Lê Thị Thảo N ã sử dụng con dấu của Công ty Đ chi nhánh Q thực hiện các thủ tục rút tiền từ tài khoản Công ty Đ - Chi nhánh Q nộp tiền vào tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N sau ó N sử dụng ể trả nợ và tiêu xài cá nhân.

2. Chiếm oạt của ông Hồ Cao S1 (sinh năm 1982, trú tại 5 N, phường N,

tp Q, tỉnh Quảng Ngãi) số tiền 952.600.000 ồng.

Ngày 12/8/2019, Lê Thị Thảo N tư vấn cho ông Hồ Cao S1 ký bản ăng ký

mua số 8.SH.33-18/BĐK/2019/FLCQUANGNGAI ể mua bất ộng sản ký hiệu 8.SH.33-18 tại dự án khu ô thị V có ịa chỉ tại khu ô thị M thuộc ịa bàn các xã B, B, B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi ký văn bản này, ông S1 ã chuyển cho Lê Thị Thảo N 524.500.000 ồng ể óng tiền tiến ộ dự án. N ã chuyển số tiền này cho Công ty Cổ phần Đ2 theo úng thỏa thuận, ngày 03/9/2019, ông S1 ký biên bản thỏa thuận số 8.SH.33-18/BBTT/2019/FLCQUANGNGAI v i Công ty Cổ phần Đ2, tại biên bản này công ty xác nhận ông S1 ã óng 524.500.000 ồng ể mua bất ộng sản như trong bản ăng ký.

Đến tháng 01/2021, mặc dù không có thông báo về việc óng tiền tiến ộ

dự án của chủ ầu tư, nhưng N ưa ra thông tin gian dối về việc có thông báo của T3 và yêu cầu ông S1 óng tiền s m, hoàn thiện giấy tờ rồi N sẽ bán lại cho người khác giúp cho ông S1. Tin lời N nói là thật, nên từ ngày 21/01/2021 ến 26/02/2021 anh Hồ Cao S1 ã chuyển cho Lê Thị Thảo N 852.600.000 ồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N tại Ngân hàng C và Ngân hàng N1. Ngoài ra, ông S1 có ưa cho N 100.000.000 ồng ể cọc mua thêm một bất ộng sản khác của T3, nhưng sau ó ông S1 không muốn mua nữa và yêu cầu ược nhận lại tiền, nhưng N nói giữ lại 100.000.000 ồng này ể óng vào lần óng tiến ộ tiếp theo của bất ộng sản ký hiệu 8.SH.33-18, nhưng N không thực hiện mà chiếm oạt.

Tổng số tiền Lê Thị Thảo N chiếm oạt của ông Hồ Cao S1 là 952.600.000

ồng. Sau khi nhận ược tiền, N sử dụng vào mục ích cá nhân hết. Sau ó, N có khắc phục trả lại cho ông S1 855.000.000 ồng. Còn lại 97.600.000 ồng chưa trả.

Do không cung cấp ược sản phẩm FLC như trong biên bản thỏa thuận,

nên ngày 03/5/2022 Công ty Cổ phần Đ2 và ông Hồ Cao S1 ã ký biên bản thanh lý biên bản thỏa thuận, ến nay Công ty Đ2 ã hoàn trả số tiền 524.500.000 ồng cho ông Hồ Cao S1.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị tuyên buộc Lê Thị Thảo N hoàn trả số tiền

ã chiếm oạt của các bị hại theo quy ịnh của pháp luật.

Quá trình iều tra, Lê Thị Thảo N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình.

T nh ng nội dung đã được xác định nêu trên, tại B n án h nh s sơ

thẩm số 44 202 H - T ngày 1 202 c a Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Lê Thị Thảo N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ vào iểm a khoản 4 Điều 174; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Thị Thảo N 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 28/6/2022.

2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu H4 phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 127.000.000 (một trăm hai mươi bảy triệu) ồng.

Buộc bà Lê Thị Hồng V phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số tiền

80.000.000 (tám mươi triệu) ồng.

Buộc bà Hồ Thị Thu H5 phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số tiền

155.000.000 (một trăm năm mươi lăm triệu) ồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 570.600.072 (năm trăm bảy mươi triệu, sáu trăm nghìn, bảy mươi hai) ồng.

Buộc ông Nguyễn Tấn H phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 1.070.000.000 (một tỷ, bảy mươi triệu) ồng,

Buộc bà Trần Thị Hồng L phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 145.000.000 (một trăm bốn mươi lăm triệu) ồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Thạch B phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự

số tiền 390.250.000 (ba trăm chín mươi triệu, hai trăm năm mươi nghìn) ồng.

Bị hại Nguyễn Thái V2 ược nhận số tiền 2.537.850.072 (hai tỷ năm trăm

ba mươi bảy triệu, tám trăm năm mươi nghìn, bảy mươi hai) ồng mà các ông (bà) Nguyễn Thị Thu H4, Lê Thị Hồng V, Hồ Thị Thu H5, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Tấn H, Trần Thị Hồng L, Nguyễn Thị Thạch B có nghĩa vụ phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự nêu trên.

Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn

Thái V2 số tiền 534.716.827 (năm trăm ba mươi bốn triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, tám trăm hai mươi bảy) ồng và tiếp tục bồi thường cho bị hại Hồ C số tiền: 97.600.000 (chín mươi bảy triệu, sáu trăm nghìn) ồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết ịnh về án phí và quyền kháng cáo

theo quy ịnh của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo và bị hại không kháng cáo, nhưng có 04

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo như sau:

- Ngày 20/6/2023, ông Nguyễn Tấn H có đơn kháng cáo với nội dung: Đề

nghị Tòa án cấp phúc thẩm không buộc ông H phải nộp số tiền 1.070.000.000 ồng cho Cơ quan thi hành án. Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N phải trả cho ông H 672.000.000 ồng, trong ó 630.000.000 ồng tiền nợ gốc và 42.000.000 ồng tiền lãi.

- Ngày 21/6/2023, bà Nguyễn Thị Thạch B có đơn kháng cáo với nội dung:

Bị cáo Lê Thị Thảo N chuyển tiền trả nợ cho bà B, bà B không biết việc bị cáo N lừa ảo chiếm oạt tài sản của ông Nguyễn Thái V2, không ồng ý việc buộc bà B phải nộp lại số tiền bị cáo N ã trả nợ cho Cơ quan thi hành án.

- Ngày 23/6/2023, bà Lê Thị Hồng V có đơn kháng cáo với nội dung: Việc

bị cáo Lê Thị Thảo N mượn và trả tiền cho bà V không liên quan ến việc bị cáo N chiếm oạt tiền của ông Nguyễn Thái V2. Không có cơ sở xác ịnh bị cáo N chiếm oạt tiền của ông V2 trả cho bà V. Không ồng ý việc buộc bà V nộp lại số tiền 80.000.000 ồng cho Cơ quan thi hành án.

- Ngày 23/6/2023, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 có đơn kháng cáo với nội dung:

Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hư ng bảo vệ người thứ ba ngay tình là bà H1, không buộc nộp lại số tiền 570.600.072 ồng do bị cáo Lê Thị Thảo N hoàn trả.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn H, bà

Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trong ơn ã nêu, ề nghị xem xét sửa án sơ thẩm, không buộc những người liên quan phải nộp lại tiền mà bị cáo N ã trả nợ cho những người liên quan do vay mượn trư c ây.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thạch B và

ông Nguyễn Tấn H có ý kiến: Bị cáo không nh là lấy tiền ông V2 trả cho những người liên quan trong thời gian nào; những người liên quan nộp tiền cho bị cáo ể thực hiện dự án nhưng không thực hiện ược nên ổi lại dự án khác và bị cáo yêu cầu những người này nộp thêm tiền. Sau ó do không thực hiện ược dự án nào cả nên bị cáo ã hoàn lại số tiền trên cho những người này. Vì vậy, không có cơ sở là bị cáo lấy tiền của ông V2 ể trả cho những người này, nên ề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thạch B và ông Nguyễn Tấn H, không buộc những người này phải nộp lại tiền mà bị cáo ã hoàn cho họ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng trình bày quan iểm:

Kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 là hợp lệ úng pháp luật ược xem xét theo thủ tục phúc thẩm; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo ề nghị xem xét sửa án sơ thẩm, không buộc họ phải nộp lại tiền mà bị cáo N ã trả cho họ do vay mượn trư c ây. Tại phiên tòa hôm nay, qua tranh luận xét thấy việc iều tra là ầy ủ, toàn diện. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Tòa án cấp sơ thẩm ã buộc ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải nộp lại tiền mà bị cáo N ã trả cho họ do vay mượn trư c ây là có căn cứ, vì tiền ó là tang vật của vụ án do bị cáo N lừa ảo của người bị hại nên phải trả lại cho người bị hại. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ơn kháng cáo v i nội dung ề nghị sửa án sơ thẩm, nhưng không cung cấp ược tình tiết nào m i làm thay ổi bản chất vụ án và ường lối xét xử của cấp sơ thẩm. Vì vậy, ề nghị Hội ồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Thảo N thừa nhận toàn bộ hành

vi như án sơ thẩm ã nêu. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp v i lời khai của những người bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng tại cơ quan iều tra và các chứng cứ ã thu thập ược. Như vậy, có ủ căn cứ chứng minh kết luận: Dù Công ty Đ - Chi nhánh Q ã tạm dừng hoạt ộng và Lê Thị Thảo N không còn là giám ốc, nhưng N vẫn yêu cầu ông Nguyễn Thái V2 óng tiền theo tiến ộ mua bất ộng sản ể ược hưởng chiết khấu, nên từ tháng 4/2021 ến ngày 13/5/2021, ông V2 ã chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Đ - Chi nhánh Q và tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N số tiền tổng cộng 3.172.566.889 ồng. Lê Thị Thảo N ã sử dụng con dấu của Công ty Đ - Chi nhánh Q thực hiện các thủ tục rút tiền từ tài khoản Công ty Đ - Chi nhánh Q nộp tiền vào tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N ể N sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân, sau ó trả lại cho ông V2 100.000.000 ồng, nên còn chiếm oạt 3.072.566.889 ồng.

Ngoài hành vi chiếm oạt tổng số tiền 3.172.566.889 ồng của ông V2

nêu trên, từ tháng 01/2021 ến ngày 26/02/2021 Lê Thị Thảo N còn ưa ra thông tin gian dối là Công ty Cổ phần Đ2 có thông báo thu tiền ể ông Hồ Cao S1 nộp tiền mua bất ộng sản và bị cáo chiếm oạt 925.600.000 ồng sử dụng vào mục ích cá nhân, sau ó ã khắc phục 855.000.000 ồng, còn lại 97.600.000 ồng.

Như vậy, tổng số tiền Lê Thị Thảo N chiếm oạt của ông V2 và ông S1

là 4.098.166.889 ồng (3.172.566.899 ồng + 952.600.000 ồng), ã khắc phục 955.000.000 ồng (ông V2 100.000.000 ồng và ông S1 855.000.000 ồng), còn lại 3.170.166.899 ồng chưa trả lại cho các bị hại.

V i hành vi và hậu quả như trên: Toà án cấp sơ thẩm xem xét ánh giá

ộng cơ, mục ích phạm tội; tính chất, mức ộ của tội phạm; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo. Căn cứ iểm a khoản 4 Điều 174; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Thảo N 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự, án sơ thẩm nhận ịnh trư c ó N nhận tiền của

nhiều người là khách hàng ể mua sản phẩm FLC nhưng không mua mà tiêu xài hết nên ã lừa ảo lấy tiền của ông V2 ể trả nợ cho những người này. Vì vậy, án sơ thẩm buộc những người liên quan phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền trên cho ông V2 là 2.537.850.072 ồng, trong ó: bà Nguyễn Thị Thu H4 127.000.000 ồng, bà Lê Thị Hồng V 80.000.000 ồng, bà Hồ Thị Thu H5 155.000.000 ồng, bà Nguyễn Thị Mỹ H1 570.600.072 ồng, ông Nguyễn Tấn H 1.070.000.000 ồng, bà Trần Thị Hồng L 145.000.000 ồng và bà Nguyễn Thị Thạch B 390.250.000 ồng. Số tiền còn lại 632.316.827 ồng buộc bị cáo N trả lại cho các bị hại, trong ó của ông V2 534.716.827 ồng và ông S1 97.600.000 ồng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N và các bị hại không kháng cáo, nhưng

có 04/08 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo ề nghị buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả nợ cho các bị hại, còn bản thân họ cũng là bị hại, ã ược bị cáo trả nợ, nên không thể buộc họ hoàn lại số tiền mà bị cáo ã bồi thường.

Xét kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông

Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1; Hội ồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Thị Thảo N, lời khai của những

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sao kê ngân hàng thì Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố Đ ã kết luận tại Bản kết luận iều tra vụ án hình sự và ề nghị truy tố số 153 ngày 15/12/2022 có nội dung “từ ngày 07/4/2021 ến ngày 13/5/2021 ông V2 ã chuyển vào tài khoản Công ty Đ - Chi nhánh Q và tài khoản cá nhân của Lê Thị Thảo N tại Ngân hàng V3 tổng cộng 3.172.566.889 ồng. Sau ó lợi dụng con dấu Công ty Đ – Chi nhánh Q và tài khoản ngân hàng của công ty mà N ang quản lý, Lê Thị Thảo N ã làm các thủ tục tại ngân hàng ể rút, sử dụng vào việc tiêu xài và trả nợ cho các cá nhân mà N ã nhận tiền ể mua sản phẩm FLC nhưng không thực hiện ược như: trả cho bà Nguyễn Thị Thu H4 (trú tổ B Q, tp Q) 127.000.000 ồng, trả cho bà Lê Thị Hồng V (22 N, tp Q) 80.000.000 ồng; bà Hồ Thị Thu H5 (trú D T, quận C, tp Đà Nẵng) 155.000.000 ồng; bà Nguyễn Thị Mỹ H1 (trú E M, tp Đ, tỉnh Lâm Đồng) 570.600.072 ồng; ông Nguyễn Tấn H (trú 206 Trương Quang T2) 1.070.000.000 ồng; bà Trần Thị Hồng L (trú tổ 22c Hòa Thuận T, tp Đà Nẵng) 145.000.000 ồng; và trả nợ vay của Nguyễn Thị Thạch B (44 N, tp Q) 390.250.000 ồng. Cơ quan CSĐT ã yêu cầu những người trên giao nộp nhưng họ cho rằng ây là tiền N hoàn trả do không mua ược sản phẩm FLC như cam kết nên không giao nộp”.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo N thừa nhận là lấy tiền của ông V2 ể

trả nợ cho những người kháng cáo, nay Toà án buộc những người này giao nộp lại ể trả cho ông V2 là thoả áng. Bị cáo hứa là sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền nợ cho tất cả những người liên quan trong thời gian s m nhất. Hội ồng xét xử thấy rằng: Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự quy ịnh: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự quy ịnh: “Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp”; Điều 167 Bộ luật dân sự quy ịnh: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Trong vụ án này có 02 người bị hại là ông Nguyễn Thái V2 và ông Hồ Cao S1, nhưng bị cáo chỉ lấy tiền của ông V2 trả cho những người liên quan, nên Toà án cấp sơ thẩm buộc những người này giao nộp ể trả lại cho ông V2 là có căn cứ.

Từ những nhận ịnh trên ây, xét thấy số tiền 3.172.566.889 ồng bị

cáo Lê Thị Thảo N chiếm oạt của ông V2 là tiền do phạm tội mà có và ây cũng là vật chứng của vụ án nên Toà án cấp sơ thẩm thu hồi trả lại cho người bị hại là có căn cứ pháp luật. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 kháng cáo, nhưng không cung cấp ược chứng cứ nào m i làm thay ổi bản chất vụ án và ường lối xét xử của cấp sơ thẩm. Do vậy, Hội ồng xét xử chấp nhận ề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của Luật sư; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết ịnh khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tuy kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông

Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 không ược chấp nhận, nhưng không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy ịnh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1/ Không chấp nhận kháng cáo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan là ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Tuyên bố: Lê Thị Thảo N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ vào iểm a khoản 4 Điều 174; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; iểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Thị Thảo N 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 28/6/2022.

2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Buộc bà Lê Thị Hồng V phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số tiền

80.000.000 (tám mươi triệu) ồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H1 phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 570.600.072 (năm trăm bảy mươi triệu, sáu trăm nghìn, bảy mươi hai) ồng.

Buộc ông Nguyễn Tấn H phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự số

tiền 1.070.000.000 (một tỷ, bảy mươi triệu) ồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Thạch B phải nộp lại tại cơ quan Thi hành án dân sự

số tiền 390.250.000 (ba trăm chín mươi triệu, hai trăm năm mươi nghìn) ồng.

2/ Án phí phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Tấn H, bà Nguyễn Thị Thạch B, bà Lê Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Mỹ H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3/ Các Quyết ịnh khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt, về xử lý vật

chứng; trách nhiệm dân sự và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (23/9/2023).

Cỡ chữ