vanban.org

Bản án 433/2026/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, Nghị định về họ, hụi, B,phường;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn bà Bùi Thị T về việc “Tranh chấp hụi”. Buộc bà Bùi Thị T có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 25.500.000 (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị H - Bùi Thị Tr"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, Nghị định về họ, hụi, B,phường;
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 433/2026/DS-ST
Ngày: 28 - 7 - 2026
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Bà Phạm Nguyễn Phương Thà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 692/2026/TB-TLVA ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưaán ra xét xử số: 485/2026/QĐXXST-DS ngày 15/6/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 477/2026/QĐST – DS ngày 07/7/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; thường trú: tổ C, khu phố P, phường G, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ liên hệ: số I, đường D, khu đô thị S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Đoàn Hồng L, sinh năm 2004; thường trú: thông Đồng Minh, xã V, tỉnh Hà Tĩnh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/3/2026), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1977; thường trú: số D khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện ngày 19/3/2026, lời khai trong quá trình tố tụng đại diện nguyên đơn bà Đoàn Hồng L trình bày:

Bà Nguyễn Thị H có quen biết với bà Bùi Thị T do cùng làm chung. Do biết bà Bùi Thị T làm chủ hụi và có nhiều người cùng tham gia chơi hụi chung nên vào ngày 10/06/2019, bà H đã tham gia 03 dây hụi do bà T làm chủ hụi và hụi có lãi. Bà H tham gia và chơi hụi tháng, mỗi tháng đóng 01 lần với số tiền đóng hàng tháng là 850.000 đồng/dây, tổng cộng bà H đã đóng hụi 30 lần, tương ứng tổng số tiền góp hụi là 25.500.000 đồng. Do bà T bể hụi và nhiều lần bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà T phải trả lại số tiền đã đóng nhưng bà Bùi Thị T không có khả năng trả lại số tiền trên nên hai bên đã ký giấy xác nhận tiền hụi. Căn cứ Giấy xác nhận do các bên lập, có chữ ký của bà Bùi Thị T, thể hiện rõ bà T thừa nhận là chủ hụi của các dây hụi mà bà H đã tham gia, đồng thời xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền hụi là 17.000.000 đồng. Mặc dù số tiền hụi thực tế nguyên đơn được nhận theo thỏa thuận là cao hơn, nhưng do hoàn cảnh khó khăn của bà Bùi Thị T, nguyên đơn đã tự nguyện chỉ yêu cầu bà Bùi Thị T trả tiền gốc mà nguyên đơn đã đóng hụi cho bà H với mức 850.000 đồng/phần hụi, tương ứng số tiền 25.500.000 đồng.

Này bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh buộc bà Bùi Thị T phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 25.500.000 đồng tiền hụi và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Bùi Thị T: Đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp và yêu cầu bà T có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà T không có ý kiến gì và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đại diện nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy Tòa án căn cứ Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt của các đương sự: Đại diện nguyên đơn bà Đoàn Hồng L có đơn đềxét xử vắng mặt, bịđơn đã được Tòa án thông báo tham gia phiên tòa vào các ngày 07/7/2026 và ngày 28/7/2026 nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung: Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Căn cứ vào Giấy xác nhận tiền hụi do nguyên đơn cung cấp có chữ ký của bà Nguyễn Thị H và chữ ký xác nhận của chủ hụi của bà Bùi Thị T. Do đó, có cơ sở xác định bà H đã tham gia chơi hụi do bà Bùi Thị T làm chủ hụi. Nội dung giấy xác nhận thể hiện bà Nguyễn Thị H tham gia hụi của bà Bùi Thị T từ ngày 10/6/2019, tổng cộng 03 dây hụi, đã góp 30 kỳ, số tiền bà H đã góp và bà T có nghĩa vụ hoàn trả được hai bên thống nhất là 30 lần × 850.000 đồng = 25.500.000 đồng. Đồng thời, trong giấy xác nhận có thể hiện do bà T không có điều kiện thanh toán nên nguyên đơn chỉ yêu cầu nhận lại tiền gốc, không yêu cầu lãi. Việc bà Bùi Thị T ký xác nhận vào giấy này thể hiện bà T đã thừa nhận việc bà Nguyễn Thị H có tham gia hụi, đã chốt số tiền còn nợ và đồng ý về nghĩa vụ thanh toán số tiền 25.500.000 (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Bà Bùi Thị T có quyền đưa ra các chứng cứ để chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà T không thực hiện xem như từ bỏ quyền chứng minh của mình.

Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị T phải trả số tiền 25.500.000 (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng là có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, 72, 91, 147, 228, 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 280, 357, 471, 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số: 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, Nghị định về họ, hụi, B,phường;

Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thườngvụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn bà Bùi Thị T về việc “Tranh chấp hụi”.

Buộc bà Bùi Thị T có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 25.500.000 (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị T phải chịu 1.275.000 một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành án Dân sự Thành phố H trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền: 814.253 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0018486 ngày 25/3/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố H.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36 và Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Cỡ chữ