vanban.org

Bản án 433/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ph.

Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thạch Ma Na (đã chết) gồm: Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma Na chết để lại) cùng với bà Hà Mộng L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Thạch Ph 11 lần hụi sống đóng bằng 8.425.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 433/2023/DSST
Ngày: 29-9-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Hùng;

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2022/TLST–DS, ngày 03-11-2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 485/2023/QĐXXST-DS, ngày 05-9-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2023/QĐST- DS ngày 19-9-2023; giữa:

Nguyên đơn: Ông Thạch Ph, sinh năm 1955; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn:

1. Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);

2. Ông Thạch Ma Na, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Thạch Ma Na:

1. Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (vợ ông Ma Na, vắng mặt);

2. Chị Thạch Nhung B, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (con ông Ma Na, vắng mặt);

3. Thạch Hà Nhật T, sinh năm 2010; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (con ông Ma Na, vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của Thạch Hà Nhật T: Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (là mẹ ruột, vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Thạch Ph trình bày:

Ngày 14/12/2016 DL ông Thạch Ph có tham gia dây hụi số 07 do bà Hà Mộng L và ông Thạch Ma Na làm chủ hụi, hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 2.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, chủ hụi có giao danh sách hụi viên, dây hụi có 17 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 800.000 đồng/lần hốt,hụi khui theo vụ lúa, ông Thạch Ph tham gia dây hụi này 01 phần và đóng được 11 lần hụi sống với số tiền là 8.425.000 đồng đến lần khui thứ 12 vợ chồng bà Hà Mộng L úp hụi. Ở dây hụi (số 07) này vợ chồng bà Hà Mộng L còn nợ tiền hụi ông Thạch Ph tổng cộng bằng 8.425.000 đồng nhưng vợ chồng bà Hà Mộng L không đồng ý trả cho ông Thạch Ph số tiền hụi sống mà ông Ph đã đóng. Nay ông Thạch Ph yêu cầu vợ chồng bà Hà Mộng Linh trả tiền hụi sống mà ông Thạch Ph đã đóng bằng 8.425.000 đồng, (Loại hụi 2.000.000 đồng, mở vào ngày 14/12/2016 DL, dây hụi số 07), ông Thạch Ph không yêu cầu vợ chồng bà Hà Mộng L trả lãi hụi bằng 13.575.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng cứ gồm: 01 danh sách hụi viên (photo); 01 căn cước công dân mang tên ông Thạch Ph (bản phô tô).

Đối với bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Linh làm đại diện): Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các thủ tục như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) không có ý kiến trình bày để phản bác nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Riêng bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật còn vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ph

2. Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thạch Ma Na (đã chết) gồm: Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma Na chết để lại) cùng với bà Hà Mộng L có nghĩa vụ trả cho ông Thạch Ph 11 lần hụi sống đã đóng bằng 8.425.000 đồng (Loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 14/12/2016, dây hụi số 07) ông Thạch Ph không yêu cầu tính lãi.

3. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Thạch Ma Na (đã chết), Tòa án đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Thạch Ma Na gồm: Bà Hà Mộng L (đồng thời là bị đơn), chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cha mẹ ông Thạch Ma Na đã chết.

Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại; Bị đơn ông Thạch Ma Na (đã chết), bà Hà Mộng L cư trú tại huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần; Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Ông Thạch Ph có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Linh làm đại diện) trong quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ph yêu cầu bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Linh làm đại diện) cùng có trách nhiệm trả nợ tiền hụi sống mà ông Thạch Ph đã đóng tổng cộng bằng 8.425.000 đồng. Ông Thạch Ph không yêu cầu tính lãi.

Đối với bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Linh làm đại diện) mặc dù không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện với ông Thạch Ph nhưng Tòa án có sao gửi các chứng cứ mà nguyên đơn nộp gồm: đơn khởi kiện, danh sách hụi viên thể hiện bà Linh là chủ hụi ở dây hụi trên và chứng cứ khác để bà có ý kiến hoặc phản hồi về những chứng cứ mà ông Thạch Ph nộp khởi kiện bà và những người kế thừa quyền và nghĩa tố tụng của ông Ma Na là bà Linh, chị Bình và Nhật T (do bà Linh làm đại diện). Đồng thời qua các ý kiến trình bày của những hụi viên tham gia dây hụi do bà Hà Mộng L làm đầu thảo chứng minh ông Thạch Ph có tham gia chơi dây hụi nêu trên, lúc bể hụi ông Thạch Ph chưa hốt hụi. Do bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Linh làm đại diện) không có ý kiến về nội dung ông Thạch Ph khởi kiện, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Xét thấy ông Ma Na không trực tiếp giao dịch tiền hụi với ông Ph ở dây hụi trên, nhưng giao dịch góp hụi của bà Linh (chủ hụi) với hụi viên diễn ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Linh và ông Ma Na, ông Ma Na biết việc bà Linh làm chủ hụi nhưng không có phản đối, cho nên Hội đồng xét xử xác định số nợ trên là nợ chung của bà Linh và ông Ma Na. Do đó bà Linh có trách nhiệm trả cho ông Thạch Ph ½ số nợ, ½ số nợ còn lại là của ông Ma Na, do ông Ma Na đã chết nên những người kế thừa quyền và nghĩa tố tụng của ông Ma Na là bà Linh, chị Bình và Nhật T (do bà Linh làm đại diện) có trách nhiệm trả cho ông Ph trong phạm vi tài sản của ông Ma Na chết để lại.

Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, do ông Thạch Ph không có yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thạch Ma Na (đã chết) gồm: Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma Na chết để lại) cùng với bà Hà Mộng L, phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Nguyên đơn ông Thạch Ph không phải chịu án phí.

Xét thấy, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 39, 74, 91, 92, 147, 227, 228, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, 471, 615 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng các Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ph.

2. Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thạch Ma Na (đã chết) gồm: Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma Na chết để lại) cùng với bà Hà Mộng L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Thạch Ph 11 lần hụi sống đóng bằng 8.425.000 đồng (Loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 14/12/2016 DL, dây hụi số 07). ÔngThạch Ph không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thạch Ma Na (đã chết) gồm: Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma Na chết để lại) cùng với bà Hà Mộng L phải chịu 421.250 đồng án phí.

Ông Thạch Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng măt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ