- Tranh chấp gì? án hình sự — "CHIANG WEI C VÀ ĐÒNG PHẠM - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 289/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 432/2022/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 289/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Chiang Wei C, sinh ngày: 10/3/1988, tại Đài Loan - Trung Quốc; Nơi cư trú: số 31, ngõ 2, đường H, phố 28, phường H1, quận C, thành phố H1, Đài Loan - Trung Quốc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Đạo Giáo; theo Công văn số 4375/C01-P6 ngày 24/7/2019 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an, bị cáo có cha là ông Giang Đức Đ, sinh năm 1957 và mẹ là bà Dương Cẩm N, sinh năm 1957 - Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai tên cha là Chiang Te T và tên mẹ là Yang Su Y (Dương Tố N); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Thông tin được lưu trong hồ sơ tại Cảnh sát Đài Loan: Năm 2003 phạm tội lừa đảo, bị kết án 5 tháng tù hoặc nộp tiền bảo lãnh.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 13/4/2019 (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Chiang Wei C: Luật sư Bùi Văn T1 - Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (có mặt).
2. Yeh Ching W, sinh ngày: 14/9/1986, tại Đài Loan - Trung Quốc; Nơi cư trú: số 3, ngõ 506, đường L, phố 13, phường P, khu N, thành phố N1, Đài Loan - Trung Quốc; Nghề nghiệp: Lao động tự do (mua bán phế liệu); Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Đài Loan - Trung Quốc; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Đạo Giáo; theo Công văn số 4375/C01-P6 ngày 24/7/2019 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an, bị cáo có cha là ông Diệp Minh H2 (không rõ năm sinh) và bà Diệp Lệ M (không rõ năm sinh) - Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai tên cha là Yeh Ming H3 và mẹ là Yeh Li M1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Thông tin được lưu trong hồ sơ tại Cảnh sát Đài Loan:
+ Năm 2004 phạm tội giết người, kết thúc điều tra;
+ Năm 2006 phạm tội đánh bạc, không khởi tố;
+ Năm 2009 phạm tội phá hoại, toà án không thụ lý;
+ Năm 2012 phạm tội đánh bạc, kết án 4 tháng tù hoặc nộp tiền bảo lãnh;
+ Năm 2015 khai báo sai thông tin, sự thật, phán quyết 3 tháng tù, vào tù từ ngày 13/3/2017 đến ngày 16/5/2017.
Bị bắt, tạm giam ngày từ 13/4/2019 (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Yeh Ching W theo Luật định: Luật sư Nguyễn Hồng N3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người phiên dịch: Bà Lê Dinh D - Công ty TNHH Đào tạo - Công nghệ - Dịch thuật chuyên nghiệp 123 Việt Nam (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 12/4/2019, tại ngã ba đường Huỳnh Mẫn Đạt - Võ Văn Kiệt, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, qua giám sát hình ảnh trật tự giao thông trên địa bàn, Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phát hiện 03 xe ô tô, gồm: xe 07 chỗ biển số 51A - 432.83, 02 xe tải biển số 51C-570.67 và 60C - 462.24 có hành vi đậu (đỗ) sai quy định, 02 xe tải đấu đuôi vào nhau để sang hàng hóa và có biểu hiện nghi vấn chở hàng cấm, nên tiến hành kiểm tra, nhưng các xe đã rời khỏi hiện trường. Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh truy đuổi đến gần khu vực hầm Thủ Thiêm, Quận 1 thì chặn dừng được 02 xe, gồm xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 do Yeh Ching W điều khiển chở Chiang Wei C và xe ô tô tải biển số 60C-462.24 do Lê Hoàng P1 (sinh năm: 1985; nơi cư trú: ấp Đ1, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) điều khiển, đồng thời yêu cầu 02 xe về trụ sở Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 để làm việc. Qua kiểm tra sơ bộ, Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phát hiện xe tải biển số 60C-462.24 chở nhiều thùng giấy bên trong chứa nhiều loa di động màu đen hiệu Temeisheng có khối lượng bất thường, do Chiang Wei C và Yeh Ching W cùng áp tải không có hóa đơn chứng từ hợp pháp, nên tổ công tác tạm giữ hàng và thông báo cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý (PC04), Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp truy tìm xe ô tô tải biển số 51C-570.67 để xử lý.
Đến khoảng 13 giờ ngày cùng ngày, Tổ công tác phát hiện xe tô tô tải biển số 51C-570.67 do Phạm Ngọc Khải H3 (sinh năm: 1994; nơi cư trú: 525/34 T2, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) điều khiển cùng với phụ xe Nguyễn Thiện T4 (sinh năm: 1988; nơi cư trú: 94/26 H4, phường T5, quận P2, Thành phố Hồ Chí Minh) đang thực hiện việc giao hàng là các thùng giấy bên trong có loa di động màu đen hiệu Temeisheng cho khách tại khu vực đường Trường Sa, Quận 3, nên yêu cầu H3 và T4 về làm việc.
Vào lúc 13 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước nhà số 52/6 Cù Lao, Phường 2, quận Phú Nhuận, Phòng PC04 kiểm tra bắt quả tang Bùi Nguyễn Huy V (sinh năm 1981; nơi cư trú: 36/29 C, Phường 2, quận Phú Nhuận) có hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của V cất giấu trên xe taxi, biển số 51G-562.58 do tài xế Trần Hoàng Tr (sinh năm: 1989; hộ khẩu thường trú: 136/5 V, Phường 3, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh) điều khiển, gồm 03 thùng giấy carton bên trong có 03 loa kéo màu đen ghi chữ Temeisheng, trong mỗi loa có 10 gói nylon màu vàng có chữ Guanyinwang được gói trong miếng giấy bạc chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 29.611,11 gam, loại Methamphetamine (MA). Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ tại nhà số 36/29 Cù Lao, Phường 2, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ gồm: 04 gói chứa tinh thể không màu, có khối lượng 2.942,2495 gam, loại Methamphetamine; 01 gói nylon màu xanh chứa tinh thể không màu, có khối lượng 998,69 gam, loại Ketamine; 01 khẩu súng dạng ru lô bằng kim loại màu trắng, báng súng bằng gỗ và 04 viên đạn, qua giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thể thao. Tiến hành điều tra mở rộng vụ án, lúc 13 giờ 40 phút ngày 12/4/2019, tại trước nhà số 985 đường Hoàng Sa, Phường 11, Quận 3, Phòng PC04 kiểm tra bắt giữ Nguyễn Đình T5 đang điều khiển xe gắn máy biển số 93G1-415.58 chở 02 thùng giấy carton bên trong đựng 02 loa kéo màu đen ghi chữ Temeisheng, trong mỗi loa có 10 gói nylon màu vàng ghi chữ Guanyinwang được gói trong miếng giấy bạc chứa tinh thể không màu. Qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 19.711,77 gam, loại Methamphetamine. T5 khai nhận chở hàng cho Bùi Nguyễn Huy V, nhưng không biết bên trong có cất giấu ma túy, phù hợp với lời khai của V. Ngày 16/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với Bùi Nguyễn Huy V để điều tra về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vào lúc 07 giờ ngày 13/4/2019, tại Đội Cảnh sát giao thông, Công an Quận 5 và Phòng PC04 phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra 02 xe ô tô, gồm xe con 07 chỗ biển số 51A-432.83 do Yeh Ching W điều khiển chở Chiang Wei C và xe tải biển số 60C-462.24 do Lê Hoàng P1 điều khiển, phát hiện trong thùng xe ô tô tải, biển số 60C-462.24 chở 60 thùng carton, trong mỗi thùng carton đựng 01 loa kéo tay màu đen hiệu Temeisheng, trong đó có 01 loa bên trong chứa 10 gói nylon màu xanh dạng túi trà có in chữ Guanyinwang và 59 loa mỗi loa chứa 10 gói nylon màu vàng dạng túi trà có in chữ Daguanyin. Tổng cộng thu giữ 590 túi trà in chữ Daguanyin và 10 túi trà in chữ Guanyinwang bên trong đều chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 606.021,7 gam, loại Methamphetamine, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chiang Wei C và Yeh Ching W về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Trên cơ sở lời khai của lái xe Phạm Ngọc Khải H3 và phụ xe Nguyễn Thiện T4, ngày 13/4/2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra (PC04) Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khám xét khẩn cấp kho chứa hàng của Công ty vận chuyển Ngọc Vân tại bãi đất trống lô K, Chung cư Nguyễn Kim, đường Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10 do ông Trần Quốc Th (sinh năm: 1981; cư trú tại: 666/20/6, đường 3/2, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ, phát hiện thu giữ 38 thùng carton, bên trong mỗi thùng đựng 01 cái loa kéo tay màu đen hiệu Temeisheng, trong đó có 01 cái loa bên trong chứa 10 gói nylon màu vàng dạng túi trà có in chữ Daguanyin và trong 37 loa còn lại mỗi loa chứa 10 gói nylon màu xanh dạng túi trà có in chữ Guanyinwang. Tổng cộng thu giữ 370 túi trà in chữ Guanyinwang và 10 túi trà có chữ Daguanyin bên trong đều chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 451.982,12 gam, loại Methamphetamine; Khám xét nhà số 35 Đoàn Hữu Trung, phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Trần Anh Q1 (sinh năm: 1973; chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 23/4/2018) là chủ sở hữu, kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án. Vật chứng bị thu giữ là ma túy đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 908 và 911/KLGĐ-H ngày 19/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình điều tra, Chiang Wei C và Yeh Ching W khai nhận hành vi phạm tội như sau: Chiang Wei C và Yeh Ching W (đều mang quốc tịch Đài Loan - Trung Quốc), Chiang Wei C đã nhập cảnh vào Việt Nam 3 lần từ năm 2018 cho đến lúc bị bắt, Yeh Ching W lần đầu nhập cảnh vào Việt Nam. Vào chiều ngày 10/4/2019, Chiang Wei C và Yeh Ching W từ Đài Loan - Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu Sân bay Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh theo chỉ đạo của “Ông Trần” (quốc tịch Đài Loan - Trung Quốc, không rõ lai lịch) là bạn của anh rể Chiang Wei C (hiện kinh doanh quán Bar, vũ trường tại Đài Loan - Trung Quốc) để vận chuyển hàng điện tử có cất giấu hàng mỹ nghệ tìm kho cất giấu tại Việt Nam. Chiang Wei C đồng ý thỏa thuận sau khi thực hiện xong sẽ quay về Đài Loan thông báo cho “Ông Trần” biết để sau đó cùng “Ông Trần” qua Việt Nam xử lý, khi làm xong việc, Chiang Wei C được “Ông Trần” hứa trả công 5.000USD. Trước khi Chiang Wei C đến Việt Nam, “Ông Trần” đưa cho Chiang Wei C số tiền 150.000 Đài tệ để làm chi phí đi đường, thuê xe và thuê kho chứa hàng. Sau đó, Chiang Wei C rủ Yeh Ching W cùng sang Việt Nam chơi và giám sát việc chở hàng, Yeh Ching W đồng ý. Chiều ngày 10/4/2019, sau khi nhập cảnh vào Việt Nam, Chiang Wei C và Yeh Ching W đến thuê khách sạn Lyberty (số 101Q3, tổ 18, khu phố 1, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) để ở. Thông qua mối quan hệ quen biết với vợ chồng Cao Thị T5 (sinh năm: 1991; hộ khẩu thường trú: 225B, ấp L, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), Chiang Wei C nhờ T5 thuê 01 xe ô tô 7 chỗ tự lái biển số 51A-432.83 của anh Đặng Tấn L4, là giám đốc Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ Táo Vàng với ngành nghề kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái. Do trước đó T5 đã 02 lần thuê xe tại đây cho Chiang Wei C sử dụng nên sau khi T5 gọi điện thoại cho Lộc để thuê xe, Chiang Wei C tự đến lấy xe và trả tiền thuê xe cho Lộc. Ngày 11/4/2019, Chiang Wei C tiếp tục nhờ T5 liên hệ thuê 01 nhà kho tại Long Thành, tỉnh Đồng Nai với giá 10.000.000 đồng để cất giữ hàng điện tử và thuê 01 xe ô tô tải để chở hàng trong thời gian 02 ngày (ngày 12 và 13/4/2019) với giá 5.000.000 đồng, T5 đồng ý và liên hệ thuê xe tải của Lê Hoàng P1 với giá 3.000.000 đồng, thuê nhà kho của anh Nguyễn Đăng Tr, tại ấp 7, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nhưng chưa thỏa thuận giá cả và làm hợp đồng thuê. Khoảng 17 giờ ngày 11/4/2019, Chiang Wei C và Yeh Ching W đến khách sạn Kelly Serviced Apartment (địa chỉ 100/2A2 Trần Hưng Đạo, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) gặp Volavong Veopadinh (sinh ngày 11/9/1971 tại Lào; Số hộ chiếu: PA0290639; Quốc tịch: Lào) là người nói được tiếng Trung Quốc đang ở lầu 3 khách sạn (không rõ số phòng). Tại đây, Volavong Veopadinh hẹn Chiang Wei C khoảng 09 đến 10 giờ ngày 12/4/2019 đem xe tải đến khách sạn Kelly Serviced Apartment để nhận hàng, đồng thời đưa cho Chiang Wei C danh thiếp của khách sạn.
Khoảng 09 giờ ngày 12/4/2019, Yeh Ching W điều khiển xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 chở Chiang Wei C đến gặp T5 để nhận xe tải và đưa danh thiếp khách sạn Kelly Serviced Apartment cho Lê Hoàng P1, yêu cầu P1 điều khiển xe tải biển số 60C-462.24 chở Chiang Wei C đến địa chỉ in trên danh thiếp để nhận hàng, còn Yeh Ching W điều khiển xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 đi theo sau xe của P1. Khi đến khách sạn Kelly Serviced Apartment, Chiang Wei C xuống xe gọi điện thoại cho Volavong Veopadinh, khoảng 30 phút sau xe tải biển số 51C-570.67 (do Phạm Ngọc Khải H3 điều khiển) chở hàng đến, Volavong Veopadinh yêu cầu Chiang Wei C đi theo xe tải biển số 51C-570.67 để nhận hàng. Sau đó, Chiang Wei C tiếp tục lên xe tải biển số 60C-462.24 của P1 đi theo xe tải biển số 51C-570.67 do Phạm Ngọc Khải H3 điều khiển, còn Yeh Ching W điều khiển xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 đi theo xe tải của P1 đến đường Huỳnh Mẫn Đạt, Quận 5. Tại đây, xe tải của P1 điều khiển đấu đuôi vào xe tải của Hoàn để Hoàn, P1 và Toàn chuyển các thùng loa sang. Chiang Wei C xuống xe tải đi qua xe 07 chỗ của Yeh Ching W cùng ngồi giám sát. Sau khi chuyển hàng xong, Chiang Wei C yêu cầu Yeh Ching W điều khiển xe ô tô 7 chỗ chở Chiang Wei C đi theo xe tải của P1 (theo sự hướng dẫn của Chiang Wei C) về Đồng Nai cất giữ hàng. Khi hai xe tô tô vừa đi qua khu vực ngã ba đường Huỳnh Mẫn Đạt - Võ Văn Kiệt, Quận 5 bị Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phát hiện yêu cầu dừng xe để kiểm tra và sau đó Chiang Wei C và Yeh Ching W bị bắt quả tang cùng vật chứng là các thùng loa chứa ma túy như đã nêu trên.
Yeh Ching W, Cao Thị T5, Lê Hoàng P1, Phạm Ngọc Khải H3 và Nguyễn Thiện T4 khai phù hợp với lời khai của Chiang Wei C. Ngoài ra, Phạm Ngọc Khải H3 và Nguyễn Thiện T4 còn khai: H3 và T4 là người làm thuê cho công ty vận chuyển Ngọc Vân. Khoảng 11 giờ ngày 12/4/2019, H3 và T4 nhận được lệnh của ông Trần Quốc Th (là chủ công ty Ngọc Vân) yêu cầu chở 60 thùng hàng đến khách sạn Kelly Serviced Apartment, số 100/2A2 Trần Hưng Đạo, Quận 1 và 05 thùng hàng đi đến đường Trường Sa, Quận 3 để giao cho khách. Sau khi H3 và T4 chất 60 thùng hàng lên xe tải biển số 51C-570.67, Hoàn điều khiển xe chở Toàn đi đến khách sạn Kelly Serviced Apartment. Tại đây, H3 và T4 thấy có 05 người đàn ông (sau này tại Cơ quan điều tra, H3 và T4 được biết người lái xe tải biển số 60C-462.24 tên P1, 02 người nước ngoài bị bắt tên Chiang Wei C và Yeh Ching W và 02 người ngước ngoài nói được tiếng Việt tên là Volavong Veopadinh và Xaipangna Boungnong). Chiang Wei C đến nói chuyện với Volavong Veopadinh và Xaipangna Boungnong, H3 và T4 không hiểu gì. Sau đó, Volavong Veopadinh đến yêu cầu Hoàn tìm chỗ vắng để sang hàng vì ở đây đông người, Hoàn đồng ý và điều khiển xe đi đến đường Huỳnh Mẫn Đạt, Quận 5 (khu vực gần trường tiểu học) dừng lại cho xe tải của P1 đấu đuôi xe vào xe của Hoàn để sang các thùng hàng. H3 và T4 thấy Chiang Wei C từ xe ô tô tải của P1 bước xuống qua xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 do Yeh Ching W điều khiển ngồi giám sát; còn P1, H3 và T4 bốc dỡ hàng qua xe tải của P1. Sau khi chuyển 60 thùng hàng xong, P1 điều khiển xe ô tô tải đi ra hướng đường Võ Văn Kiệt, Chiang Wei C và Yeh Ching W cùng đi theo, riêng Hoàn điều khiển xe chở Toàn quay về kho tiếp tục bốc 05 thùng hàng chở đến đường Trường Sa, Quận 3 giao cho khách xong đang trên đường về thì bị Cảnh sát giao thông đến kiểm tra lập biên bản về lỗi đậu sai quy định và yêu cầu về Cơ quan Công an làm rõ. Tiến hành cho H3 và T4 nhận dạng xác định Chiang Wei C và Yeh Ching W chính là 02 người đàn ông đi xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 cùng xe tải nhận hàng từ xe của H3 và T4 chuyển qua. Ngoài ra, H3 và T4 còn khai nhận hiện trong kho của Công ty Ngọc Vân còn cất giữ 38 thùng hàng tương tự như các thùng hàng trên. Trước đó, vào ngày 06/3/2019 và khoảng ngày 13/3/2019, H3 và T4 02 lần, mỗi lần chở 15 thùng hàng như trên đến nhà số 35 Nguyễn Hữu Trung, phường An Phú, Quận 2 để giao cho một người nước ngoài (không rõ lai lịch). Qua xác minh người thuê tại địa chỉ trên là Yeow Yong Chin (sinh ngày 30/5/1994, số hộ chiếu: xxxxxxxxx, cấp ngày 17/2/2019; Quốc tịch Malaysia) thuê ở, hiện nay Yeow Yong Chin đã xuất cảnh rời khỏi Việt Nam vào ngày 01/5/2019 nên không ghi được lời khai.
Trần Quốc Th (là chủ doanh nghiệp Công ty vận chuyển Ngọc Vân) khai: Công ty Ngọc Vân chuyên vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang Thái Lan và ngược lại. Ngày 11/4/2019, ông Thái nhận được thông tin từ người bạn hàng quen biết ngoài xã hội tên Trần Hồng Nhật (không rõ lai lịch, sinh sống tại Thái Lan) nói có một khách hàng bên Thái Lan gửi 103 thùng hàng loại loa kéo tay về Việt Nam và yêu cầu ông Thái nhận lô hàng này để chuyển giao cho khách ở Việt Nam, ông Thái đồng ý. Đến tối cùng ngày, có 02 xe tải loại nhỏ (không nhớ biển số) chở 103 thùng hàng nêu trên đến kho của ông Thái tại lô K, Chung cư Nguyễn Kim cũ, đường Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10. Sau khi nhận hàng xong, Thái gọi điện thoại thông báo cho Nhật biết, Nhật nói sẽ gửi thông tin và số điện thoại người nhận lô hàng trên cho Thái biết để giao hàng. Đến gần trưa ngày 12/4/2019, Thái nhận được thông tin từ Nhật yêu cầu giao 60 thùng loa cho người có số điện thoại xxxxxxxxxx (qua xác minh chính là Volavong Veopadinh) tại địa chỉ số 100/2A2 Trần Hưng Đạo, Quận 1 và giao 05 thùng loa cho người có số điện thoại xxxxxxxxxx (chính là Bùi Nguyễn Huy V) ở đường Lê Văn Sỹ, Quận 3; còn lại 38 thùng loa, Thái đang chờ thông tin khách hàng để đi giao nhưng không thấy Nhật liên lạc, sau đó bị khám xét, thu giữ như đã nêu trên. Trước đó, Nhật còn gửi 30 thùng loa tương tự cho Công ty Ngọc Vân chuyển giao cho Yeow Yong Chin như H3 và T4 đã khai.
Đối với các đối tượng Volavong Veopadinh, Xaipangna Boungnong (quốc tịch Lào) liên quan đến việc giao nhận 60 loa kéo tay màu đen hiệu Temeisheng có chứa ma tuý cho Chiang Wei C và Yeh Ching W, nhưng đã xuất cảnh vào ngày 13/4/2019 qua cửa khẩu Bờ Y, tỉnh Kon Tum. Riêng Yeow Yong Chin (quốc tịch Malaysia) là đối tượng nghi vấn đã nhận 30 thùng carton nghi có chứa ma tuý tại nhà số 35 Đoàn Hữu Trung, phường An Phú, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất cảnh vào ngày 10/5/2019 qua cửa khẩu Tân Sơn Nhất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Bùi Nguyễn Huy V, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của Chiang Wei C và Yeh Ching W, vào ngày 16/4/2019 đã bị PC04 khởi tố điều tra về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác.
Đối với Cao Thị T5, Lê Hoàng P1, Phạm Ngọc Khải H3, Nguyễn Thiện T4 và Trần Quốc Th do không biết việc Trần Hồng Nhật, Chiang Wei C và Yeh Ching W nhờ thuê kho, thuê xe cất giấu và vận chuyển ma túy nên không xem xét xử lý.
Đối với Trần Hồng Nhật (quốc tịch Thái Lan) do Trần Quốc Th khai không rõ về lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.
Vật chứng vụ án, gồm có:
1. Thu giữ của Chiang Wei C và Yeh Ching W:
- 26 thùng giấy được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Điều tra viên Đinh Xuân Phùng, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định.
- 20 thùng giấy được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Điều tra viên Phạm Thành Trung, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi giám định.
- 98 loa kéo tay hiệu Temeisheng, màu đen.
- 98 thùng carton.
- 02 điện thoại di động hiệu Iphone và Androidone của Chiang Wei C sử dụng.
- 01 điện thoại di động Iphone màu trắng của Yeh Ching W sử dụng.
- 01 hộ chiếu số xxxxxxxxx cấp tại Đài Loan của Chiang Wei C.
- 01 hộ chiếu số xxxxxxxxxx cấp tại Đài Loan của Yeh Ching W.
- 01 xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 có số khung: RL4Z69G5C9002186 và số máy 7435262-2TR. Kết quả điều tra xác minh xe ô tô trên do ông Huỳnh Công Khanh (sinh năm: 1944; hộ khẩu thường trú: 64/13 TL15, phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) là người đứng tên đăng ký sở hữu. Ngày 11/3/2018, ông Khanh ký hợp đồng cho Công ty TNHH du lịch Tuấn Phong (địa chỉ 128/37A, Phạm Văn Hai, Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê thời hạn là 12 tháng, từ ngày 11/3/2018 đến ngày 11/3/2019. Ngày 01/3/2019, Công ty TNHH du lịch Tuấn Phong ký hợp đồng cho ông Trần Quốc Nam (sinh năm: 1984; nơi cư trú: ấp 4, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê thời hạn là 30 ngày. Ông Nam sử dụng xe này giao cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Táo Vàng do ông Đặng Tấn Lộc làm giám đốc cho khách thuê xe tự lái theo ngày. Lúc 19 giờ 30 phút ngày 10/4/2019, theo sự giới thiệu của Cao Thị T5, ông Lộc đã cho Chiang Wei C thuê với giá 800.000 đồng/ngày. Xét thấy chủ sở hữu xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 là ông Khanh và Lộc khi cho Chiang Wei C và Yeh Ching W thuê xe đều không biết sử dụng vào việc giao dịch vận chuyển ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho chủ sở hữu là ông Khanh quản lý sử dụng.
2. Thu giữ của Lê Hoàng P1:
- 01 điện thoại di động Nokia màu đen (đã trả lại cho ông P1 do không liên quan đến vụ án).
- 01 xe ô tô tải biển số 60C-462.24 có số khung: RRGLTX5D4KB000360 và số máy 4A1-68C43-Q181040115D do Lê Hoàng P1 là người đứng tên đăng ký sở hữu. Vào ngày 15/01/2019, Lê Hoàng P1 đến Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - Chi nhánh Đồng Nai làm thủ tục vay số tiền 165.000.000 đồng để mua xe ô tô tải biển số 60C-462.24 dùng làm phương tiện chuyên chở hàng hóa. Ngày 11/4/2019, qua giới thiệu của Cao Thị Thuý, P1 nhận hợp đồng chở hàng điện tử cho Chiang Wei C trong hạn 02 ngày với giá 3.000.000 đồng. Vào ngày 12/4/2019, sau khi nhận hàng xong P1 điều khiển xe biển số 60C-462.24 trên đường về thì bị Công an bắt lập biên bản tạm giữ xe. Xét thấy Lê Hoàng P1 khi nhận hợp đồng chở hàng không biết là nhận vận chuyển các loa có chứa ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chủ sở hữu là ông P1 quản lý sử dụng.
3. Thu giữ của Cao Thị T5: 01 điện thoại di động hiệu Iphone do Chiang Wei C đưa cho Thuý dùng để liên lạc với nhau.
Tại bản Cáo trạng số 245/CT-VKS-P1 ngày 02/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên, về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 4, Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 289/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; Điều 50; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Chiang Wei C tử hình, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Chiang Wei C nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.
Xử phạt bị cáo Yeh Ching W tử hình, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Yeh Ching W nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 22/12/2021, các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Chiang Wei C thừa nhận bị cáo được một người quen họ Trần ở Đài Loan nhờ sang Việt Nam để vận chuyển linh kiện điện tử nhưng bị cáo không biết bên trong các thùng hàng này có chứa ma túy nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Chiang Wei C là Luật sư Bùi Văn T1 phát biểu ý kiến: Về tố tụng, cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng như: Quyết định trưng cầu giám định không ghi nơi lưu giữ, nơi bảo quản, tình trạng niêm phong và tính nguyên vẹn của mẫu giám định, không ghi thời hạn giám định; biên bản mở niêm phong vật chứng không có chữ ký của bị cáo, người thân thích của bị cáo, người bào chữa hoặc đại diện chính quyền phường, xã nơi mở niêm phong; việc lấy mẫu giám định từ 26 thùng niêm phong gộp chung để trong một túi nylon, mà không trích mẫu giám định của từng túi trà để xác định chính xác số lượng và loại ma túy trong từng túi trà, dẫn đến kết luận giám định không khách quan, chính xác; Cơ quan điều tra còn có sự chậm trễ trong việc chỉ định người bào chữa và người phiên dịch cho các bị cáo. Ngoài ra, về lý lịch của bị cáo, tên cha mẹ của bị cáo được phiên dịch ra tiếng Việt không chính xác.
Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Chiang Wei C khai không biết được thuê để vận chuyển ma túy và không biết trong các thùng carton do bị cáo vận chuyển có chứa ma túy. Cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ xác định bị cáo Chiang Wei C có biết hàng hóa vận chuyển là ma túy và giữa các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W có bàn bạc, trao đổi về việc vận chuyển ma túy hay không, nên chưa đủ cơ sở định tội bị cáo Chih.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Bị cáo Yeh Ching W kháng cáo kêu oan, cho rằng không phạm tội vận chuyển trái phép chất túy vì bị cáo chỉ nhập cảnh cùng Chiang Wei C vào Việt Nam đi chơi, và không biết các thùng hàng bị cáo Chiang Wei C vận chuyển là ma túy. Khi bị bắt, trên xe do bị cáo điều khiển cũng không có ma túy.
Người bào chữa theo Luật định cho bị cáo Yeh Ching W là Luật sư Nguyễn Hồng N3 phát biểu ý kiến: bị cáo Yeh Ching W là người nước ngoài nên nhận thức về pháp luật của Việt Nam còn hạn chế. Bị cáo không bàn bạc gì với bị cáo Chiang Wei C về vận chuyển ma túy, cũng không nhận tiền từ bất kỳ ai, bị cáo chỉ sang Việt Nam để du lịch, đi chơi. Các chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để buộc tội bị cáo Wei. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và áp dụng hình phạt tử hình đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hồ sơ vụ án thể hiện, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W đã được cử phiên dịch và tiếp tục có phiên dịch trong quá trình điều tra, truy tố, được các bị cáo xác nhận tại các bút lục từ 480 đến 483. Các bị cáo cũng được Cơ quan Cảnh sát Điều tra đề nghị cử người bào chữa theo các công văn số 884/CV-PC04(Đ5) và 885/CV-PC04(Đ5) ngày 13/5/2019. Ngoài ra, các bị cáo còn được người thân thích mời người bào chữa cho các bị cáo (từ bút lục số 315-332 và từ bút lục số 389-397).
Về lý lịch của các bị cáo: Ngày 20/9/2021, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Quyết định số 170/2020/HSST-QĐ trả hồ sơ để điều tra bổ sung xác định chính xác họ tên cha, mẹ của hai bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W. Tại Công văn 199/VKS-P1 ngày 14/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định yêu cầu điều tra bổ sung nêu trên đã được làm rõ tại hồ sơ vụ án và Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 77/VKS-P1 ngày 12/5/2021 trả lời vấn đề này. Theo Công văn số 77/VKS-P1 nêu trên, xác định quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát Đài Loan xác minh nhân thân, lai lịch các bị cáo (kết quả thể hiện tại Công văn số 4375/C01-P6 ngày 24/7/2019 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an), theo đó, bị cáo Chiang Wei C có cha tên là Giang Đức Đ1 và mẹ tên Dương Cẩm N; bị cáo Yeh Ching W có mẹ tên Diệp Lệ M và cha tên Diệp Minh H2. Như vậy, về lý lịch của các bị cáo đã được xác minh làm rõ. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Chiang Wei C khai có cha tên là Chiang Te T và mẹ tên là Yang Su Y; bị cáo Yeh Ching W khai có cha tên là Yeh Ming H3 và mẹ là Yeh Li M1, các bị cáo không biết tiếng Việt nên không biết phiên âm ra tiếng Việt tên cha mẹ. Đây chỉ là lời khai của các bị cáo và không phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan điều tra nên đề nghị của người bào chữa về việc làm rõ lý lịch của các bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W đều thừa nhận có vận chuyển 60 thùng carton bị bắt quả tang nhưng không biết các thùng hàng này có chứa ma túy nên không thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, lời khai của các bị cáo, của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 12/4/2019, tại ngã ba đường Huỳnh Mẫn Đạt - Võ Văn Kiệt, Quận 5, Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phát hiện 03 xe ô tô, gồm: xe 07 chỗ biển số 51A-432.83, 02 xe tải biển số 51C-570.67 và 60C-462.24 có hành vi đỗ sai quy định và có biểu hiện nghi vấn chở hàng cấm, nên đã phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh truy đuổi đến gần khu vực hầm Thủ Thiêm, Quận 1 thì chặn dừng được 02 xe, gồm xe ô tô 07 chỗ biển số 51A-432.83 do Yeh Ching W điều khiển chở Chiang Wei C và xe ô tô tải biển số 60C-462.24 do Lê Hoàng P1 điều khiển chở nhiều thùng giấy carton do Chiang Wei C và Yeh Ching W cùng áp tải không có hóa đơn chứng từ hợp pháp, nên tạm giữ 02 xe ô tô và các thùng hàng này, đồng thời thông báo cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý (PC04), phối hợp truy tìm xe ô tô tải biển số 51C-570.67 để xử lý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Công an phát hiện xe tô tô tải biển số 51C-570.67 do Phạm Ngọc Khải H3 điều khiển cùng với phụ xe Nguyễn Thiện T4 đang thực hiện việc giao hàng cho khách tại khu vực đường Trường Sa, Quận 3 nên yêu cầu H3 và T4 về làm việc.
Vào lúc 07 giờ ngày 13/4/2019, tại Đội Cảnh sát giao thông, Công an Quận 5 và Phòng PC04 tiến hành kiểm tra 02 xe ô tô bị tạm giữ nêu trên, phát hiện trong thùng xe ô tô tải biển số 60C-462.24 chở 60 thùng carton, trong mỗi thùng carton đựng 01 loa kéo tay màu đen hiệu Temeisheng, trong đó có 01 loa bên trong chứa 10 gói nylon màu xanh dạng túi trà có in chữ Guanyinwang và 59 loa mỗi loa chứa 10 gói nylon màu vàng dạng túi trà có in chữ Daguanyin. Tổng cộng thu giữ 590 túi trà in chữ Daguanyin và 10 túi trà in chữ Guanyinwang bên trong đều chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 606.021,7 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng bị thu giữ là ma túy nêu trên đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 908/KLGĐ-H ngày 19/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định đều là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, không có thành phần nào khác. Như vậy, việc giám định đã được thực hiện đúng theo quy định.
Với các hành vi nêu trên, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với các đối tượng Volavong Veopadinh, Xaipangna Boungnong liên quan đến việc giao nhận 60 loa kéo tay màu đen hiệu Temeisheng có chứa ma tuý cho Chiang Wei C và Yeh Ching W nhưng đã xuất cảnh vào ngày 13/4/2019 qua cửa khẩu Bờ Y, tỉnh Kon Tum. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Cao Thị T5, Lê Hoàng P1, Phạm Ngọc Khải H3, Nguyễn Thiện T4 và Trần Quốc Th do không biết việc Trần Hồng Nhật, Chiang Wei C và Yeh Ching W nhờ thuê kho, thuê xe cất giấu và vận chuyển ma túy nên không xem xét xử lý.
Đối với Trần Hồng Nhật (quốc tịch Thái Lan) do Trần Quốc Th khai không rõ về lai lịch và địa chỉ nên không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến chính sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo Chiang Wei C.
Bị cáo Chiang Wei C kháng cáo cho rằng bị cáo không biết các thùng hàng được vận chuyển là ma túy mà chỉ nhận vận chuyển hàng linh kiện điện tử giúp cho đối tượng gọi là “ông Trần” ở Đài Loan. Tuy nhiên, bị cáo là người nước ngoài, không có giấy phép lái xe quốc tế được phép sử dụng tại Việt Nam cũng như giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng hóa nhưng lại nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam để vận chuyển hàng và bị bắt quả tang khi đang áp tải các thùng hàng không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp và bên trong có chứa ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với số ma túy bị thu giữ. Mặt khác, căn cứ lời khai của các bị cáo, của những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Chiang Wei C biết hàng vận chuyển là ma túy nhưng vẫn nhận vận chuyển và cố tình khai báo quanh co để che giấu hành vi phạm tội. Do đó, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật và không oan sai.
Khi lượng hình, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Chiang Wei C không có tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo vận chuyển ma túy với khối lượng đặc biệt lớn. Quá trình điều tra không thành khẩn khai báo, quanh co chối tội, gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Do vậy, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo hình phạt tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là thỏa đáng, tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Chiang Wei C không có căn cứ chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị cáo Yeh Ching W.
Bị cáo Yeh Ching W kháng cáo cho rằng không biết hàng hóa mà Chiang Wei C nhận vận chuyển là ma túy, bị cáo chỉ lái xe ô tô 7 chỗ theo sự chỉ dẫn của Chiang Wei C, trên xe không có ma túy. Tuy nhiên, biên bản bắt người phạm tội quả tang thể hiện, bị cáo Yeh Ching W cùng bị cáo Chiang Wei C trực tiếp vận chuyển các thùng loa chứa ma túy (bút lục 365). Tại các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung, bị cáo Yeh Ching W thừa nhận có việc cùng nhập cảnh, ở cùng khách sạn, đi cùng Chiang Wei C đến gặp T5 để thuê kho cùng xe tải để phục vụ cho việc vận chuyển hàng, và lái xe fortuner 7 chỗ chở bị cáo Chiang Wei C chạy theo xe tải 60C-462.24 chở ma túy nhằm mục đích giám sát việc vận chuyển dù bị cáo không có bằng lái xe hợp pháp được sử dụng tại Việt Nam (bút lục 411, 413, 417, 419 và 634).
Ngoài ra, hồ sơ vụ án thể hiện, lời khai của Phạm Ngọc Khải H3 và Nguyễn Thiện T4 cùng thống nhất xác định, Yeh Ching W ngồi trên xe 7 chỗ cùng Chiang Wei C giám sát việc chuyển hàng sang xe tải 60C-462.24 (bút lục 122, 147).
Từ phân tích tại mục [6.1] và [6.2], có đủ căn cứ kết luận bị cáo Yeh Ching W là đồng phạm với bị cáo Chiang Wei C trong việc vận chuyển trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy vận chuyển nêu tại mục [2.2]. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Yeh Ching W.
Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xác định bị cáo Yeh Ching W không có tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; số ma túy do bị cáo vận chuyển có khối lượng đặc biệt lớn nên xử phạt bị cáo Yeh Ching W tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo cũng như đề nghị của những người bào chữa, và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 289/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Xử:
[1] Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; Điều 50; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[1.1] Xử phạt bị cáo Chiang Wei C tử hình, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Chiang Wei C để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo Chiang Wei C nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.
[1.2] Xử phạt bị cáo Yeh Ching W tử hình, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Yeh Ching W để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo Yeh Ching W nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.
[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các bị cáo Chiang Wei C và Yeh Ching W có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước - Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1) - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; (3) - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; (1) (1) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục THA DS Thành phố Hồ Chí Minh; (1) - TTG Công an Thành phố Hồ Chí Minh; (1) “Để tống đạt cho bị cáo”; (2) - Lưu hồ sơ vụ án (1). VP 05, 17b. (PPC). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Phan Nhựt Bình |