vanban.org

Bản án 43/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Hồ Nhọc P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hồ Nhọc P 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ NHỌC PHU - SỬ DỤNG TRÁI PHÉP MA TUÝ - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2026/HS-ST
Ngày: 20-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ánh và ông Nguyễn Minh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tường Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai, thành phố Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2026/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với các bị cáo:

Hồ Nhọc P (tên gọi khác: Quay) – sinh năm 1986, tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai (nay là Khu phố P, phường T, thành phố Đ; Số căn cước công dân: 075086015747; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ A T – sinh năm 1956 và bà Ừng Thị G – sinh năm 1956; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 30/6/2016, tại Bản án số 87/2016/HSST bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (T1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/4/2021, chưa đóng án phí nên chưa được xoá án tích.

Nhân thân:

- Ngày 17/8/2010, tại Quyết định số 1843/QĐ của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 12 (Mười hai) tháng.

- Ngày 17/01/2012, tại Quyết định số 136/QĐ của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 (Hai mươi bốn) tháng.

- Ngày 21/11/2022, tại Quyết định số 946/QĐ-UBND Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với thời hạn 06 (Sáu) tháng. Ngày 25/5/2023, tại Quyết định số 95/QĐ-UBND Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đông Nai áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn 02 (Hai) năm.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2025 đến nay (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ ngày 18/9/2025, Đội Cảnh sát giao thông Số 2 thuộc Phòng C Công an tỉnh Đ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường Quốc lộ 20 thì phát hiện Hồ Nhọc P đang điều khiến xe mô tô mang biển số 60B3-523.14 đang đi về hướng “Km125” qua kiểm tra phát hiện Phu dương tính với chất ma tuý tổng hợp dạng đá (MET) và cần sa (THC). Vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đề giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra làm rõ Hồ Nhọc P đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Cơ sở điều trị Methdone số 6 thuộc Trung tâm y tế Đ từ ngày 24/8/2022 đến nay. Vào khoảng 08 giờ ngày 16/9/2025, P đến Cơ sở điều trị Methdone số 6 thuộc Trung tâm y tế Đ để nhận thuốc Methadone. Sau khi nhận thuốc, P điều khiển xe mô tô biển số 60B3-523.14 đi về thì gặp 01 người tên S (hiện không rõ lai lịch) và mua 100.000đ ma túy đá. Sau khi mua ma túy, P đi về nhà tại Ấp P, xã T (nay là Khu phố P, phường T), tại phòng ngủ P lấy ma túy đá mua được cho vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa hơ nóng hút ma túy qua đường miệng vào trong cơ thể, P sử dụng ma túy một mình. Nỏ thủy tinh và nắp chai dùng sử dụng ma túy thì sau khi sử dụng xong Phu đã vứt bỏ.

Tại kết luận giám định số 2386/KL-KTHS ngày 26/9/2025, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận “Mẫu nước tiểu của Hồ Nhọc P được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine và sản phẩm chuyển hoá của Methamphetamine”.

Theo Cáo trạng số 18/CT-VKSDNI-KV ngày 21/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai đã truy tố Hồ Nhọc P về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Nhọc P mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận, đã nhận thấy hành vi là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai, thành phố Đ:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào ngày 16/9/2025, tại ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai (nay là Khu phố P, phường T, thành phố Đ), Hồ Nhọc P là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế là thuốc Methadone tại Cơ sở điều trị Methdone số 6 thuộc Trung tâm y tế Đ từ ngày 24/8/2022 đến nay, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của Hồ Nhọc P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc Hoa trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, là tệ nạn cần loại bỏ ra khỏi xã hội bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe, giống nòi và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người trưởng thành, không chịu rèn luyện tu dưỡng mà nghiện ma túy, bị cáo là đối tượng đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế là thuốc Methadone tại Cơ sở điều trị Methdone số 6 thuộc Trung tâm y tế Đ từ ngày 24/8/2022 đến nay nhưng lại tiếp tục có hành vi sử dụng chất ma túy.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với nỏ thủy tinh và nắp chai là dụng cụ được bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý, quá trình điều tra bị cáo khai nhận sau khi sử dụng xong đã vứt bỏ nhưng không nhớ vứt ở vị trí nào, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với 01 người thanh niên tên S mà Hồ Nhọc P khai đã bán ma tuý cho P, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng nêu trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xác định được về nhân thân, lai lịch sẽ xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Nhọc P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Hồ Nhọc P 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025.

2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án ND TP.Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát ND TP.Đồng Nai;

- Viện kiểm sát ND Khu vực 8 – Đồng Nai;

- Công an TP. Đồng Nai;

- Thi hành án dân sự TP. Đồng Nai;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Hoàng Thị Xuân Hồng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Xuân Hồng

Hoàng Thị Xuân Hồng

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án ND TP.Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát ND TP.Đồng Nai;

- Viện kiểm sát ND Khu vực 8 – Đồng Nai;

- Công an TP. Đồng Nai;

- Thi hành án dân sự TP. Đồng Nai;

- Bị cáo; Bị hại;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Hoàng Thị Xuân Hồng

Cỡ chữ