vanban.org

Bản án 43/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bùi Đức T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức T "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––
Bản án số: 43/2026/HS - ST
Ngày: 22 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Chức danh: Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T, để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Đức T, sinh ngày 10/7/1993. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm K, xã V, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn T1 và bà Phạm Thị N; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 14/2011/HSST ngày 23/02/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2011, thi hành xong án phí và nghĩa vụ bồi thường ngày 02/5/2013.

- Tại Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS năm 2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2023, thi hành xong án phí ngày 17/8/2022.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2026, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh T - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

Anh Hoàng Diệp S, sinh năm 2006/ vắng mặt.

Trú tại: Xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T: Ông Nguyễn Nam T2 - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Nguyễn Văn Đ - Cán bộ Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T.

2. Ông Nguyễn Xuân T3 - Cán bộ Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý, khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/01/2026 Bùi Đức T đi xe ôm từ nhà đến khu vực Cầu G thuộc phường L, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 300.000 đồng được 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá, loại Methamphetamine được bọc gói bên ngoài bằng lớp túi nilon. Sau khi mua được ma túy T đi bộ về nhà, khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày T đi đến đường tỉnh lộ 292 đoạn thuộc xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an xã Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng, được niêm phong theo quy định.

Tiến hành kiểm tra nhanh ma tuý bằng phương pháp sử dụng que thử ma tuý qua nước tiểu đối với Bùi Đức T, kết quả: Dương tính với chất ma tuý.

Ngày 20/01/2026, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số tinh thể màu trắng thu giữ của Bùi Đức T có khối lượng là 0,423 gam và lấy toàn bộ niêm phong vào bì ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 28/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,423 gam.

- Tìm thấy các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu B gửi giám định.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong, ký hiệu A1 (bên trong có 0,395 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong, ký hiệu A2 (bên trong có vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A).

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xác định mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không có ý định bán lại kiếm lời và trước đó bị cáo cũng chưa bán ma túy cho ai.

Bản cáo trạng số 18/CT – VKSKV5 ngày 14/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Đức T từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Đức T.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ tài liệu khác của vụ án được thu thập trong quá trình điều tra.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 40 phút 19/01/2026, tại đường T đoạn thuộc xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Đức T đang có hành vi tàng trữ 0,423 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Đức T đã phạm vào Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Nội dung điều luật sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

c) ... Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS viện dẫn ở trên.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Đức T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp khiến dư luận quần chúng bất bình. Vì ma túy là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, con đường lây nhiễm nhiều bệnh nan y, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Mặt khác ma túy còn hủy hoại sức khỏe, kinh tế của chính người nghiện. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính và bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là có căn cứ.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Đức T. Kết quả điều tra xác định: Bùi Đức T không trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Không trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; Không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai. Do vậy hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Bùi Đức T vào ngày 15/01/2026 không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 06/02/2026, Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Đức T số tiền 1.250.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bùi Đức T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2026.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[3]. Về xử lý vật chứng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và cơ quan Thi hành án dân sự).

[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Đức T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND khu vực 5-TN;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- Công an tỉnh Thái Nguyên;

- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;

- Cơ quan THAHS, Trại tạm giam;

- THADS tỉnh Thái Nguyên;

- UBND xã nơi BC cư trú;

- Bị cáo;

- Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

Đỗ Hữu Nhường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu N1

Cỡ chữ