- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc S - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2026/HS-ST Ngày: 10 - 4 - 2026 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình.
Ông Lê Huỳnh Sinh .
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2026/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 đối với:
Bị cáo: Trần Quốc S, sinh năm 1984 tại Khánh Hòa (cũ là Ninh Thuận). Nơi cư trú: Số D L, phường P, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần X và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Có vợ tên Trần Thị H1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
Ngày 10/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 06/06/2022.
Bị cáo Trần Quốc S bị tạm giữ từ ngày 03/12/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phan R – T, Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh K (có mặt).
- Bị hại: Anh Lê Hồng M, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Lê Sơn H2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 50 phút ngày 02/12/2025, Tổ tuần tra Công an phường Đ tiến hành dừng xe kiểm tra và phát hiện Trần Quốc S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen – đỏ, biển số 85AA-092.16 nhưng không xuất trình được giấy tờ xe, nên đã mời về trụ sở Công an phường để làm việc.
Tại Cơ quan Công an, S khai nhận, khoảng 09 giờ ngày 26/11/2025, S đi bộ dọc theo đường Y theo hướng từ chợ Đ về phía biển B. Khi đến trước nhà hàng Q thuộc tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa, S thấy tại vỉa hè có dựng 01 xe mô tô biển số 85AA-092.16 thuộc sở hữu của anh Lê Hồng M (sinh năm 1998, thường trú tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa), không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa. Lợi dụng sơ hở này, S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để làm phương tiện đi lại. Đến ngày 02/12/2025, khi S điều khiển xe mô tô trên đến đường H, thuộc phường Đ, tỉnh Khánh Hòa thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Sau đó, S đã tự thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Đ, tỉnh Khánh Hòa kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen – đỏ, biển số 85AA-092.16, số máy: JF66E0642315, số khung: RLHJF5811GY642302, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 26/11/2025 là 10.075.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Quốc S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự thú.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho anh Lê Hồng M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen – đỏ, biển số 85AA-092.16; số máy: JF66E0642315; số khung: RLHJF5811GY642302, đã qua sử dụng; Trả lại cho Trần Quốc S 01 quần dài size S, bằng vải dù màu đen, dài 97cm, lưng quần rộng 37cm, trên mặt hông trước ống quần bên trái có dòng chữ “acupuncture” màu trắng bạc. Các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Phần dân sự: Không.
Bản Cáo trạng số 50/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Trần Quốc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến hay khiếu nại gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 173; các điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc S từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/12/2025).
Về xử lý vật chứng: Không. Về dân sự: Không.
Bị cáo không trình bày tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình sai trái xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại anh Lê Hồng M; Người làm chứng ông Lê Sơn H2 vắng mặt; không ai đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Lợi dụng sự sơ hở trong quản lý, bảo vệ tài sản của chủ sở hữu nên vào khoảng 09 giờ ngày 26/11/2025, khi S đi bộ dọc đường Y thấy 01 mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ, biển số 85AA-092.16 của anh Lê Hồng M, đang dựng ở vỉa hè trước nhà hàng Q thuộc tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa nên đã lén lút trộm cắp xe mô tô trên. Trị giá tài sản là 10.075.000 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng số 50/CT-VKSKV5 ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đã từng bị Tòa án có thẩm quyền xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân. Ngược lại, vì tham lam, lười lao động nên đã bất chấp, cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự thú theo quy định tại các điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình mức án phù hợp cho bị cáo.
Xét nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Hồng M đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho anh Lê Hồng M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen – đỏ, biển số 85AA-092.16; số máy: JF66E0642315; số khung: RLHJF5811GY642302, đã qua sử dụng; Trả lại cho Trần Quốc S 01 quần dài size S, bằng vải dù màu đen, dài 97cm, lưng quần rộng 37cm, trên mặt hông trước ống quần bên trái có dòng chữ “acupuncture” màu trắng bạc. Các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa về việc định tội danh và định khung hình phạt đối với bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội là có căn cứ và đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc S 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/12/2025).
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Quốc S phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 - 4 - 2026); bị hại vắng mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 5; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Phòng PV 06 CAT Khánh Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Dung |