- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc M, Nguyễn Xuân T - thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (điều 291 Luật…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo và phạm tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2026/HS-ST Ngày 11-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải, bà Lê Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2026/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 02 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. , tên gọi khác: không; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1999, tại tỉnh Lào Cai; Số căn cước công dân: 015.099.000.934, nơi cấp: về TTXH- . Nơi cư trú: ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn lớp: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông , sinh năm 1979 và bà , sinh năm: 1979; vợ: , sinh năm 1998; chưa có con, tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 16/3/2017, bị xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi Đánh nhau; Ngày 23/7/2024, bị Cơ quan CSĐT , Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Ngày 29/4/2025, bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 12 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt là 30 tháng tù. Bị cáo hiện đang tạm giam trong vụ án khác tại Phân trại tạm giam , Trại tạm giam - , vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
2. , tên gọi khác: không; sinh ngày 25 tháng 9 năm 1999, tại tỉnh Lào Cai; Số căn cước công dân: 015.099.008.346, cấp ngày 02/01/2023, nơi cấp: về TTXH- . Nơi cư trú: ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông , đã chết và bà , sinh năm 1974. Vợ con chưa có; Tiền án: 01; Ngày 20/02/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tiền sự: 01; Ngày 14/8/2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Nhân thân: Ngày 19/10/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào , thời hạn 01 năm 06 tháng. Ngày 09/3/2018, bị , tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng các loại vũ khí trái quy định nhưng chưa gây hậu quả; Bị cáo hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh , sinh năm 2000, địa chỉ: , vắng mặt.
2. Anh , sinh năm 2001, địa chỉ: , vắng mặt.
3. Anh , sinh năm 2004, địa chỉ: , vắng mặt.
4. Anh , sinh năm 2006, địa chỉ: , vắng mặt.
5. Anh , sinh năm1994; địa chỉ:
6. Anh , sinh năm 1999, địa chỉ: , vắng mặt.
7. Anh , sinh năm 1992; địa chỉ: , vắng mặt.
8. Anh , sinh năm 2002; địa chỉ: , vắng mặt.
9. Anh , sinh năm 1998; địa chỉ: , vắng mặt.
10. Anh , sinh năm 2004; địa chỉ: , vắng mặt.
11. Anh , sinh năm 2004; địa chỉ: , vắng mặt.
12. Anh , sinh năm 2003; địa chỉ: , vắng mặt.
13. Chị , sinh năm 2005, địa chỉ: , vắng mặt.
14. Anh , sinh năm 2000, địa chỉ: , vắng mặt.
15. Bà , sinh năm 1974, địa chỉ: , vắng mặt.
16. Ông , sinh năm 1979, địa chỉ: , vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh , sinh năm 2003; địa chỉ: , vắng mặt.
2. Anh , sinh năm 1998; địa chỉ: , vắng mặt.
3. Anh , sinh năm 1994, địa chỉ: , vắng mặt.
4. Anh , sinh năm 1996; địa chỉ: , vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12/2022, lên mạng xã hội T thì thấy một số tài khoản đăng tải thông tin tìm mua tài khoản ngân hàng. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã chủ động nhắn tin với một người có tài khoản hiển thị tên tiếng Trung Quốc để hỏi về nội dung trên thì người này trả lời sẽ mua các tài khoản ngân hàng với giá 1.000.000 đồng/01 tài khoản, giá trên đã bao gồm tất cả các chi phí liên quan, sau khi mở được tài khoản phải chuyển thông tin đăng nhập cho người này qua ứng dụngTelegram, đồng thời gửi sim điện thoại đã đăng ký Mobile Banking (Dịch vụ ngân hàng điện tử trên điện thoại di động) thông qua xe khách đến địa chỉ theo yêu cầu, đồng ý.
Do có mối quan hệ quen biết xã hội từ trước nên cuối tháng 12/2022, đã liên lạc với trao đổi nhờ thu mua tài khoản ngân hàng để bán lại cho với giá 500.000 đồng/01 tài khoản. đồng ý, sau đó thông qua các mối quan hệ cá nhân (thường là bạn cùng chơi game ở quán internet “” và người cùng quê), hỏi mua tài khoản ngân hàng với giá từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng/01 tài khoản hoặc mời ăn uống (tuỳ theo mối quan hệ) để bán lại cho nhằm mục đích hưởng tiền chênh lệch.
Về phương thức thực hiện, các bị cáo khai nhận, thời gian đầu, cung cấp cho khoảng 15 sim điện thoại ( và không nhớ cụ thể) để cung cấp cho những người có nhu cầu bán tài khoản ngân hàng, sau đó những người này lắp sim vào máy điện thoại rồi trực tiếp đến các ngân hàng trên địa bàn để mở tài khoản đồng thời đăng ký dịch vụ Mobile Banking, hoặc thay đổi số điện thoại đã đăng ký dịch vụ Mobile Banking sang số điện thoại mà đã cung cấp. Thời gian sau đó, do không cung cấp sim điện thoại nên đưa người bán tài khoản ngân hàng đến cửa hàng bán sim thẻ của một phụ nữ ở gần Thư viện tỉnh Yên Bái cũ (hiện chưa xác định và làm việc được với người phụ nữ này) để mua và kích hoạt sim bằng thông tin cá nhân của họ. Sau khi hoàn tất việc mở tài khoản, những người bán tài khoản sẽ giao lại cho thông tin tài khoản ngân hàng bao gồm tên đăng nhập, mật khẩu, sim điện thoại đã đăng ký dịch vụ Mobile Banking. Ngoài ra, để mua được nhiều tài khoản ngân hàng hơn, còn trả tiền công cho người giới thiệu được người khác bán tài khoản với số tiền 100.000 đồng/01 tài khoản. Các bị cáo khai nhận, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2022 đến tháng 4/2023, bằng phương thức, thủ đoạn nêu trên, đã mua được 29 tài khoản ngân hàng của 18 cá nhân với số tiền 7.200.000 đồng, cụ thể như sau:
1. Tháng 4/2023, mở 02 tài khoản ngân hàng gồm: số 7870666888 và số 1037222482 để bán cho được số tiền 600.000 đồng/02 tài khoản.
2. Tháng 4/2023, mở 02 tài khoản ngân hàng gồm: số 100878551296 và số 1037161187 để bán cho được số tiền 300.000 đồng/02 tài khoản.
3. Tháng 4/2023, mở 02 tài khoản ngân hàng gồm: số 1036871310 và số 100878539951 để bán cho được số tiền 300.000 đồng/02 tài khoản.
4. Tháng 3/2023, mở 02 tài khoản ngân hàng gồm: số 1037180129 và số 19039629977011 để bán được số tiền 600.000 đồng/02 tài khoản.
5. Khoảng đầu năm 2023, mở 02 tài khoản ngân hàng gồm: số 1036566479 và số 101878443764 để bán cho được số tiền 600.000 đồng/02 tài khoản.
6. Tháng 3/2023, mở 01 tài khoản số 6060109664459 để bán cho được số tiền 400.000 đồng.
7. Tháng 4/2023, bán cho 02 tài khoản ngân hàng gồm: và số 19037306119011 được số tiền 800.000 đồng/02 tài khoản.
8. Tháng 01/2023, mở 01 tài khoản số 19032420181991 để bán cho được số tiền 500.000 đồng.
9. Tháng 4/2023, bán cho 01 tài khoản số 19038576370014 được số tiền 300.000 đồng.
10. Tháng 3/2023, bán cho 01 tài khoản số 0325889769, sau đó, trả công cho bằng cách mời đi ăn uống.
11. Tháng 01/2023, mở 01 tài khoản số 19034660674015 để bán được số tiền 300.000 đồng.
12. Tháng 4/2023, thông qua anh trai ruột là , mua của 02 tài khoản ngân hàng gồm: số D và số 1037222674. đã thanh toán cho 200.000 đồng/02 tài khoản.
13. Tháng 4/2023, thông qua anh trai ruột là , mua của 02 tài khoản ngân hàng gồm: số G và số 1037192889. trả công cho bằng cách mời ăn uống.
14. Tháng 4/2023, thông qua giới thiệu, mua của 02 tài khoản ngân hàng gồm: số I và số 2424112004. đã thanh toán cho 600.000 đồng/02 tài khoản. không trả công giới thiệu cho .
15. Tháng 4/2023, thông qua và giới thiệu, đã mua của 02 tài khoản ngân hàng gồm: số A và số 19039632610011. đã thanh toán cho 400.000 đồng/02 tài khoản ngân hàng và trả cho 200.000 đồng tiền công giới thiệu, không trả công giới thiệu cho .
16. Tháng 4/2023, thông qua giới thiệu, đã mua của 02 tài khoản ngân hàng gồm: số I và số 1037197889. đã thanh toán cho 600.000 đồng/02 tài khoản và trả cho 200.000 đồng tiền công giới thiệu.
17. Tháng 3/2023, thông qua giới thiệu, đã mua của 01 tài khoản số 4124042005. đã thanh toán cho 300.000 đồng và không phải trả công giới thiệu cho .
18. Tháng 3/2023, nhờ anh trai ruột mở 01 tài khoản , không phải trả tiền cho .
Ngoài ra, còn tự mình mở 01 tài khoản số 9366808628.
Sau đó, đã bán lại toàn bộ thông tin của 30 tài khoản ngân hàng nêu trên cho bằng cách nhắn tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP qua Telegram, rồi chuyển sim điện thoại đăng ký dịch vụ Mobile Banking qua xe khách đến địa chỉ (cũ) cho . Trường hợp cần gấp, trực tiếp đến (cũ) gặp để nhận sim điện thoại. Sau khi nhận đủ thông tin tài khoản ngân hàng và sim điện thoại, đã chuyển tiền vào tài khoản của , số tài khoản 121383869999 với số tiền 500.000 đồng/01 tài khoản theo thỏa thuận. Trong khoảng thời gian từ 21/3/2023 đến 28/4/2023, đã chuyển tiền cho 08 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi trừ chi phí, được hưởng lợi 7.800.000 đồng, số tiền này đã tiêu xài cá nhân hết.
Đối với , sau khi nhận được sim điện thoại và thông tin tài khoản ngân hàng từ , tiếp tục chuyển thông tin tài khoản ngân hàng cho người mua (là người có tài khoản T hiển thị tên tiếng Trung Quốc) thông qua và đồng thời gửi sim điện thoại qua xe khách đến địa chỉ mà người này yêu cầu (đến nay không nhớ địa chỉ nào). Sau khi nhận được sim điện thoại và thông tin tài khoản ngân hàng, người mua đã thanh toán cho qua tài khoản số 718313333 của với tổng số tiền 30.000.000 đồng/30 tài khoản. Do người mua sử dụng nhiều tài khoản khác nhau để chuyển tiền nên không xác định được cụ thể tài khoản nào chuyển tiền và cụ thể từng lần chuyển mà chỉ nhớ mỗi lần thanh toán, hai bên xác nhận với nhau qua tin nhắn Telegram. Sau khi trừ chi phí thanh toán cho là 15.000.000 đồng, chi phí mua sim, nạp tiền điện thoại là 3.000.000 đồng, được hưởng lợi 12.000.000 đồng, số tiền này đã tiêu xài cá nhân hết.
Đồ vật tài sản thu giữ gồm:
- Quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra đã tạm giữ các hồ sơ mở tài khoản, sao kê tài khoản của các tài khoản liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Các tài liệu này được đánh số bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án.
- Tổng số tiền 26.700.000 đồng ( nộp 7.800.000 đồng; nộp 12.000.000 đồng; 14 cá nhân nộp 6.900.000 đồng).
Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-P1 ngày 31/01/2026, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố và về tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai giữ nguyên các nội dung của bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo và phạm tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
2. Về hình phạt:
+ Bị cáo : Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 291; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ: 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
+ Bị cáo : Áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 291; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo : 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, bị cáo đang bị tạm giam, bị cáo đang trong thời gian cai nghiện bắt buộc nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án các hồ sơ mở tài khoản, sao kê tài khoản của các tài khoản liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo đã được đánh số bút lục trong hồ sơ.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể: số tiền 7.800.000 đồng; số tiền 12.000.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 1.000.000 đồng; anh số tiền 400.000 đồng; anh số tiền 500.000 đồng; chị số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 400.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 200.000 đồng; anh số tiền 800.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng.
- Hủy bỏ 20 lệnh phong tỏa tài khoản đối với 20 tài khoản sau theo các lệnh phong tỏa tài khoản số 01, 02, 03, 04, 05, 07, 08, 09, từ số 11 đến số 22/LPT-ANĐT-Đ2, đều cùng ngày 07/01/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra . Tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền còn lại tại 20 tài khoản ngân hàng, tổng số tiền 151.706.480 đồng, sau đó yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng tài khoản theo danh sách các tài khoản ngân hàng sau:
+ 09 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số G, số tiền còn lại trong tài khoản là 493 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19037306119011 số tiền còn lại trong tài khoản là 53 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19038576370014 số tiền còn lại trong tài khoản là 14.361 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19034660674015 số tiền còn lại trong tài khoản là 469 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 4708111998 số tiền còn lại trong tài khoản là 93 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 7789996996 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.965 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9008062003 số tiền còn lại trong tài khoản là 484 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng , số tiền còn lại trong tài khoản là 346 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng , số tiền còn lại trong tài khoản 500.016 đồng, chủ tài khoản tên .
+ 08 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số 1037222482 số tiền còn lại trong tài khoản là 23.918.380 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1036871310 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.240.707 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037180129 số tiền còn lại trong tài khoản là 759.546 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037222674 số tiền còn lại trong tài khoản là 3.098.470 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037192889 số tiền còn lại trong tài khoản là 45 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9702059553 số tiền còn lại trong tài khoản là 328 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037197889 số tiền còn lại trong tài khoản là 2.506.149 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9975656145 số tiền còn lại trong tài khoản là 127 đồng, chủ tài khoản tên .
+ 02 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số 100878551296 số tiền còn lại trong tài khoản là 112.650.318 đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 100878539951 số tiền còn lại trong tài khoản là 0 đồng, chủ tài khoản tên .
- 01 tài khoản mở tại số A số tiền còn lại trong tài khoản là 7.130 đồng, chủ tài khoản tên .
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt các bị cáo theo quy định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình tố tụng đã phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 12/2022 đến tháng 4/2023, trên địa bàn (cũ) nay là , đã mua trái phép thông tin 29 tài khoản ngân hàng của nhiều người và tự mở 01 tài khoản của , sau đó bán lại toàn bộ thông tin 30 tài khoản ngân hàng nêu trên để hưởng lợi số tiền chênh lệch là 7.800.000đồng. Sau khi có được thông tin tài khoản, bán lại toàn bộ thông tin 30 tài khoản ngân hàng mua của cho người khác ( không biết tên, tuổi, địa chỉ) để hưởng số tiền chênh lệch 12.000.000đồng. Hành vi nêu trên của , thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến đến các quy định về trật tự quản lý nhà nước trên lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo là vụ lợi. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vị trí, vai trò do các bị cáo thực hiện trong vụ án.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, ngày 29/4/2025, bị Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, hiện bị cáo còn đang tạm giam về hành vi “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”; Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa, hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai, tuy nhiên, quá trình tham gia tố tụng các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó là người trực tiếp liên hệ, thỏa thuận mua bán tài khoản ngân hàng với đối tượng sử dụng tài khoản Telegram có tên hiển thị bằng tiếng Trung Quốc nhằm mục đích kiếm lời, sau đó chủ động thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp liên lạc, hướng dẫn phương thức thực hiện và chi trả tiền công cho . Vì vậy, giữ vai trò khởi xướng và phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. tiếp nhận ý chí phạm tội từ Trần Quốc Mạnh, sau đó lợi dụng các mối quan hệ cá nhân để thu mua tài khoản ngân hàng và bán lại cho . Do đó, là đồng phạm với vai trò giúp sức cho và phải chịu trách nhiệm với vai trò thấp hơn đối với hành vi mua bán các tài khoản ngân hàng, thu lợi bất chính 7.800.000 đồng.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo thực hiện tội phạm vì mục đích vụ lợi, bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác, bị cáo đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện . Các bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo , đã bị xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, hiện đang bị tạm giam và cai nghiện bắt buộc. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng, các tài sản bị thu giữ và biện pháp tư pháp:
- Đối với các hồ sơ mở tài khoản, sao kê tài khoản của các tài khoản liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền nộp 7.800.000 đồng; nộp 12.000.000 đồng; 14 cá nhân nộp 6.900.000 đồng tiền hưởng lợi từ việc bán tài khoản ngân hàng, cụ thể: Anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 1.000.000 đồng; anh số tiền 400.000 đồng; anh số tiền 500.000 đồng; chị số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 400.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 200.000 đồng; anh số tiền 800.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 300.000 đồng; anh số tiền 600.000 đồng, xét thấy các khoản tiền trên là tiền thu lợi bất chính hoặc liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 30 tài khoản ngân hàng do và những người liên quan mở, rồi bán lại thông tin về tài khoản ngân hàng cho để bán cho , sau đó bán cho người khác là vi phạm quy định về việc mở, quản lý, sử dụng tài khoản ngân hàng. Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành tổng hợp các biện pháp xác minh dòng tiền, sao kê tài khoản, xác định địa chỉ IP của các giao dịch chuyển, nhận tiền, tuy nhiên không làm rõ được về người đã sử dụng và mục đích của các giao dịch. Trong số 30 tài khoản nêu trên, hiện tại đã làm rõ được anh , anh , anh , anh đã lấy lại 04 tài khoản, thay đổi số điện thoại đăng ký dịch vụ Mobile Banking để tiếp tục sử dụng với mục đích cá nhân, qua xác minh không phát hiện dấu hiệu vi phạm trong việc thực hiện các giao dịch chuyển, nhận tiền của những người này. Đối với 26 tài khoản còn lại (trong đó: 07 tài khoản không còn tiền trong đó 06 tài khoản đã bị khóa hoặc phong tỏa được gồm 01 tài khoản của số 19039629977011; 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 1036566479 và số 101878443746; 01 tài khoản của số 1037751819, 01 tài khoản của số 9366808628; 01 tài khoản của số 1037161187; 19 tài khoản còn tổng số tiền 151.706.480 đồng); 13 cá nhân đứng tên 19 tài khoản còn tiền và 01 tài khoản bị phong tỏa tài khoản, gồm:
1. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 7870666888 số tiền còn lại trong tài khoản là 493 đồng và số 1037222482 số tiền còn lại trong tài khoản là 23.918.380 đồng
2. 01 tài khoản của số 100878551296 số tiền còn lại trong tài khoản là 112.650.318 đồng
3. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 1036871310 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.240.707 đồng và số 100878539951 số tiền còn lại trong tài khoản là 0 đồng
4. 01 tài khoản ngân hàng : số 1037180129 số tiền còn lại trong tài khoản là 759.546 đồng
5. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 0010157137102 số tiền còn lại trong tài khoản là 7.130 đồng và số 19037306119011 số tiền còn lại trong tài khoản là 53 đồng.
6. 01 tài khoản của số 19038576370014 số tiền còn lại trong tài khoản là 14.361 đồng.
7. 01 tài khoản của số 19034660674015 số tiền còn lại trong tài khoản là 469 đồng
8. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 4708111998 số tiền còn lại trong tài khoản là 93 đồng và số 1037222674 số tiền còn lại trong tài khoản là 3.098.470 đồng.
9. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 7789996996 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.965 đồng và số 1037192889 số tiền còn lại trong tài khoản là 45 đồng.
10. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 9702059553 số tiền còn lại trong tài khoản là 328 đồng và số 2424112004 số tiền còn lại trong tài khoản là 346 đồng.
11. 02 tài khoản ngân hàng của gồm: số 9008062003 số tiền còn lại trong tài khoản là 484 đồng và số 1037197889 số tiền còn lại trong tài khoản là 2.506.149 đồng.
12. 01 tài khoản của số 4124042005 số tiền còn lại trong tài khoản 500.016 đồng.
13. 01 tài khoản của số 9975656145 số tiền còn lại trong tài khoản là 127 đồng,
Những người này đều xác nhận số tiền còn lại trong các tài khoản ngân hàng không phải thuộc sở hữu của mình và các giao dịch không phải do bản thân thực hiện, thông tin các tài khoản này bị cáo và những người khác trao đổi, mua bán trái phép vi phạm quy định về mở, quản lý và sử dụng tài khoản ngân hàng. Cơ quan điều tra đã áp dụng lệnh phong tỏa tài khoản đối với các tài khoản này, cần hủy bỏ các lệnh phong tòa tài khoản, tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền còn lại tại các tài khoản ngân hàng, sau đó thực hiện việc đóng 20 tài khoản này theo quy định.
Về các vấn đề khác:
- Đối với anh , anh , anh , anh , anh , anh , anh , anh , chị , anh , anh , anh , anh , anh , anh , anh , anh , quá trình điều tra xác định các đối tượng nêu trên đã sử dụng thông tin cá nhân của mình và các số điện thoại do cung cấp để đăng ký mở tài khoản tại các , , , , sau đó bán lại cho thu lời bất hợp pháp. Tuy nhiên, các đối tượng chỉ thực hiện việc mua bán, trao đổi đều dưới mức cấu thành tội phạm hình sự mà vi phạm hành chính, hành vi của các cá nhân nêu trên đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với anh , anh và anh là những người đã giới thiệu người khác để mua tài khoản ngân hàng, tuy nhiên quá trình điều tra xác định, , , chỉ giới thiệu cho mua được từ 02 đến 04 tài khoản ngân hàng, và không được hưởng lợi về tiền, chỉ thu lợi 400.000 đồng nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Cơ quan An ninh điều tra không đề cập xử lý, là phù hợp.
- Đối với người đã mua 30 tài khoản ngân hàng của với giá 30.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định khai không biết nhân thân, lai lịch mà chỉ biết người này sử dụng tài khoản Telegram hiển thị tên tiếng Trung Quốc. cũng không nhớ tên, mật khẩu tài khoản đăng nhập Telegram của bản thân. Mặt khác, các lần chuyển tiền cho , người này dùng nhiều tài khoản khác nhau nên không nhớ và không xác định được giao dịch nào là của người đã mua thông tin tài khoản ngân hàng của . Do vậy, không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
- Đối với 02 chiếc điện thoại và sử dụng để phục vụ cho hành vi phạm tội mua bán trái phép tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, cả hai đều khai nhận hiện nay không còn sử dụng 02 chiếc điện thoại này nữa, hiện không biết hiện đang ở đâu, tình trạng như thế nào, không nhớ tên tài khoản Telegram là gì, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, truy tìm.
- Đối với người phụ nữ bán sim điện thoại ở gần Thư viện tỉnh Yên Bái (cũ), ngoài lời khai của bị can , Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh nhân thân, lai lịch của người này, do vậy, không chứng minh làm rõ được.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai tại phiên tòa là phù hợp, nên được HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo và phạm tội: “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 291; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 291; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án các hồ sơ mở tài khoản, sao kê tài khoản của các tài khoản liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo đã được đánh số bút lục trong hồ sơ.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tiền của các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể: số tiền 7.800.000 (bảy triệu tám trăm nghìn) đồng; số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng; anh số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng; anh số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng; anh số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng; anh số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; chị số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng; anh số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng; anh số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; anh số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng; anh số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng; anh số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng.
- Hủy bỏ 20 lệnh phong tỏa tài khoản đối với 20 tài khoản sau theo các lệnh phong tỏa tài khoản số 01, 02, 03, 04, 05, 07, 08, 09, từ số 11 đến số 22/LPT-ANĐT-Đ2, đều cùng ngày 07/01/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra . Tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền còn lại tại 20 tài khoản ngân hàng, tổng số tiền 151.706.480 đồng, sau đó yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng tài khoản theo danh sách các tài khoản ngân hàng sau:
+ 09 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số G, số tiền còn lại trong tài khoản là 493 (bốn trăm chín mươi ba) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19037306119011 số tiền còn lại trong tài khoản là 53 (năm mươi ba) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19038576370014 số tiền còn lại trong tài khoản là 14.361 (mười bốn nghìn ba trăm sáu mươi mốt) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 19034660674015 số tiền còn lại trong tài khoản là 469 (bốn trăm sáu mươi chín) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 4708111998 số tiền còn lại trong tài khoản là 93 (chín mươi ba) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 7789996996 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.965 (tám nghìn chín trăm sáu mười lăm) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9008062003 số tiền còn lại trong tài khoản là 484 (bốn trăm tám mươi tư) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng , số tiền còn lại trong tài khoản là 346 (ba trăm bốn mươi sáu) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng , số tiền còn lại trong tài khoản 500.016 (năm trăm nghìn không không trăm mười sáu) đồng, chủ tài khoản tên .
+ 08 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số 1037222482 số tiền còn lại trong tài khoản là 23.918.380 (hai mươi ba triệu chín trăm mười tám nghìn ba trăm tám mươi) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1036871310 số tiền còn lại trong tài khoản là 8.240.707 (tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn bảy trăm linh bảy) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037180129 số tiền còn lại trong tài khoản là 759.546 (bảy trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi sáu) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037222674 số tiền còn lại trong tài khoản là 3.098.470 (ba triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm bảy mươi) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037192889 số tiền còn lại trong tài khoản là 45 (bốn mươi lăm) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9702059553 số tiền còn lại trong tài khoản là 328 (ba trăm hai mươi tám) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 1037197889 số tiền còn lại trong tài khoản là 2.506.149 (hai triệu năm trăm linh sáu nghìn một trăm bốn mươi chín) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 9975656145 số tiền còn lại trong tài khoản là 127 (một trăm hai mươi bảy) đồng, chủ tài khoản tên .
+ 02 tài khoản mở tại , gồm: tài khoản ngân hàng số 100878551296 số tiền còn lại trong tài khoản là 112.650.318 (một trăm mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn ba trăm mười tám) đồng, chủ tài khoản tên ; tài khoản ngân hàng số 100878539951 số tiền còn lại trong tài khoản là 0 (không) đồng, chủ tài khoản tên .
- 01 tài khoản mở tại số A số tiền còn lại trong tài khoản là 7.130 (bảy nghìn một trăm ba mươi) đồng, chủ tài khoản tên .
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo , mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Bị cáo , được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - Công an tỉnh Lào Cai; - CQCSĐT- Công an tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 1- Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 1- Lào Cai; - Bị cáo; - Phân trại Gia Định- Trại giam Chí Hòa; -Trung tâm cai nghiện số 2, t. Lào Cai - NCQLvà NVLQ - THA hình sự; - Lưu hồ sơ, TA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Văn THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA |