vanban.org

Bản án 43/2026/HS-PT-CTN — Hình sự

Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng Tuyên án 03/02/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1.

Xử phạt bị cáo Phan Tấn N 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt bị cáo Lê Trần Gia B 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời giam tạm giam từ ngày 25/02/2025 đến ngày 27/6/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2026/HS-PT-CTN
Ngày: 03/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Phước Hoà

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Tấn Long và bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành An, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Xuân Thanh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 248/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Phan Tấn N, Lê Trần Gia B, Phan Tấn V về tội “Giết người” do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Phan Tấn N, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 23 tháng 10 năm 2008 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12. Con ông Phan Thanh T1 và bà Phan Thị Tuyết N1. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/01/2024, bị Công an thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Công an xã Đ, tỉnh Đắk Lắk) xử phạt Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2025 đến ngày 19/10/2025 tại xã Ô, tỉnh Đắk Lắk. có mặt tại phiên tòa

2. Lê Trần Gia B, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 04 tháng 5 năm 2008 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12. Con ông Lê Minh P và bà Trần Thị Ngọc L. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/01/2024, bị Công an thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Công an xã Đ, tỉnh Đắk Lắk) xử phạt Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/02/2025 đến ngày 27/6/2025; ngày 27/6/2025 cho bảo lĩnh đến ngày 19/10/2025. có mặt tại phiên tòa

3. Phan Tấn V, tên gọi khác: không; giới tính: Nam. Sinh ngày 23 tháng 10 năm 2008 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12. Con ông Phan Thanh T1 và bà Phan Thị Tuyết N1. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/01/2024, bị Công an thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Công an xã Đ, tỉnh Đắk Lắk) xử phạt Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/6/2025 đến ngày 19/10/2025 tại xã Ô, tỉnh Đắk Lắk. có mặt tại phiên tòa

Người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo V: Ông Nguyễn N2 - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh Đ; địa chỉ: số D N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. có mặt

Người bào chữa cho bị cáo B: Bà Huỳnh Diệp Huyền T2 và bà Lê Thị Hồng D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh Đ; địa chỉ: số D N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. có mặt

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo N và bị cáo V: Ông Phan Thanh T1, bà Phan Thị Tuyết N1; địa chỉ: Thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk. ông T1 có mặt

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo B: Ông Lê Minh P, bà Trần Thị Ngọc L; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk. bà Ngọc L có mặt

* Bị hại: Trần Nguyễn Thành U, sinh ngày 25/02/2009; Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/10/2024, Lê Trần Gia B và Nguyễn Thành D1 đến quán Y thuộc thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk uống cà phê. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Tấn V, Phan Tấn N đến quán, ngồi gần B nói chuyện; N nhớ đến mâu thuẫn với em Trần Nguyễn Thành U, sinh ngày 25/02/2009 nên rủ B, V đánh U thì cả hai đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày, em U cùng em Phạm Bùi Lê Nguyễn H đến quán, đi ngang qua vị trí N đang nằm, N đứng dậy gọi em U lại nói “Bữa mày chửi ai vậy Uy”; em U trả lời “Tao đâu có chửi gì đâu” rồi lại võng nằm. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, Thái Văn T3 đến quán, N tiếp tục rủ B, V, T3 đánh em U thì tất cả đồng ý; Dương ngủ, không biết việc N rủ B, V, T3 đánh em U. Thấy em H điều khiển xe mô tô chở em U ra về, N nói B, V, T3 “chạy rượt theo chặn đánh thằng U”, T3 điều khiển xe mô tô chở N, V rượt theo xe em U; D1 ra lấy xe mô tô đi về thì B ngồi lên xe, D1 điều khiển xe mô tô chở B đi sau. Khi đến khu vực gần cầu L thuộc thôn Q, xã T, tỉnh Đắk Lắk, T3 điều khiển xe vượt lên ép trước đầu xe của em H dừng lại; D1 cũng vừa điều khiển xe đến dừng cách vị trí của em U khoảng 06m, B xuống xe, nhặt 01 viên gạch ống loại 04 lỗ có dính vữa bê tông ném trúng vùng đầu bên trái em U; N dùng hai tay đánh liên tiếp nhiều cái trúng vùng mặt em U làm em U ngã xuống đường, hai tay ôm đầu; B tiếp tục dùng chân đá liên tiếp 02 cái trúng vùng mặt, bụng của em U, rồi cả nhóm bỏ đi. Em U được em H và gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 514 ngày 29/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P (nay là tỉnh Đắk Lắk), kết luận: Trần Nguyễn Thành U bị nứt lún xương sọ chẩm đỉnh sau bên trái, tụ máu ngoài màng cứng chẩm đỉnh sau bên trái, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%, do vật có cạnh gây nên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2025/HS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

“[1] Tuyên bố: Các bị cáo Phan Tấn N, Lê Trần Gia B, Phan Tấn V và Thái Văn T3 phạm tội “Giết người”.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 54; Điều 57; khoản 1 Điều 10; Điều 101; Điều 102 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt bị cáo Phan Tấn N 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54 Điều 57; khoản 1 Điều 101; Điều 102 Bộ Luật hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt bị cáo Lê Trần Gia B 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời giam tạm giam từ ngày 25/02/2025 đến ngày 27/6/2025.

Xử phạt bị cáo Phan Tấn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.”

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Thái Văn T3, trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08/10/2025, bà Trần Thị Ngọc L - đại diện theo pháp luật của Lê Trần Gia B kháng cáo cho rằng các cháu không có ý định sát hại hay cố ý giết người và đề nghị giảm hình phạt cho Lê Trần Gia B.

Ngày 08/10/2025, ông Phan Thanh T1 - đại diện theo pháp luật của Phan Tấn N, Phan Tấn V kháng cáo cho rằng các cháu không có ý định sát hại hay cố ý giết người và đề nghị giảm hình phạt cho Phan Tấn N, Phan Tấn V.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bà Huỳnh Diệp Huyền T2 - người bào chữa cho bị cáo B: sự phân hóa giữa các bị cáo là không công bằng, cụ thể nếu không có Thái Văn T3 chặn xe thì B không thể phạm tội. Vụ án này bị hại cũng có phần lỗi. Bị cáo không chủ ý ném vào đầu bị hại. B đã bồi thường cho bị hại 20 triệu đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đến thăm hỏi bị hại nên bị hại có đơn giảm hình phạt cho bị cáo.

Và bà Lê Thị Hồng D: thống nhất ý kiến của bà T2, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 5 Điều 12, 120 Luật người chưa thành niên để giảm hình phạt cho bị cáo B.

Ông Nguyễn N2 – người bào chữa cho bị cáo N, V: Trong vụ án này N không bàn bạc với B đánh bị hại U như thế nào. Sau khi xuống xe thì B ngay lập tức nhặt gạch ném vào bị hại Uy nên N không kịp ngăn cản. V chỉ đi theo không có hành động cụ thể nào. Gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng có ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ xét xử bị cáo Phan Tấn N, Phan Tấn V, Lê Trần Gia B về tội “Giết người” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng pháp luật, mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 05 năm 09 tháng tù đối với các bị cáo là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo, người bào chữa.

[1] Theo bản án hình sự sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với kết luận giám định, tang vật thu giữ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ ngày 25 phút ngày 24/10/2024, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà Phan Tấn N đã rủ Lê Trần Gia B, Phan Tấn V, Thái Văn T3 đánh cháu Trần Nguyễn Thành U. B dùng gạch loại 04 lỗ có dính vữa bê tông ném vào đầu và dùng tay chân đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt, bụng, N dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt cháu U. Hậu quả: Cháu U bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 17%.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo cho rằng các bị cáo không phạm tội “Giết người” mà chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích”:

Bị cáo Lê Trần Gia B đã dùng gạch ống loại 04 lỗ có dính vữa bê tông ném vào vùng đầu bên trái, sau đó B, N còn dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, bụng cháu U. Theo Kết luận giám định số 514/KLTTCT-PYPY ngày 29/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P (nay là tỉnh Đăk Lăk) thì thương tích của cháu U là: vết thương vùng thái dương trái khoảng 05cm; theo CT Scanner sọ não ngày 25/10/2024: tụ máu, tụ khí ngoài màng cứng chẩm đỉnh sau bên trái. Nứt lún xương sọ chẩm đỉnh sau bên trái; Theo CT Scanner sọ não ngày 30/10/2024: tụ máu ngoài màng cứng chẩm - đỉnh sau bên trái. Gãy lún xương sọ chẩm đỉnh sau bên trái.

Vùng đầu là vùng xung yếu của cơ thể, các bị cáo nhận thức được hành vi dùng gạch loại 04 lỗ có dính vữa bê tông để ném vào vùng đầu bên trái cháu U thì có khả năng rất lớn dẫn đến chết người.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo N, B, V cùng về tội “Giết người” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Tính chất hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù chỉ có mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo đã có hành vi dùng xe mô tô đuổi theo cháu Trần Nguyễn Thành U rồi dùng gạch ném vào đầu cháu U nên cần phải xử mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa loại tội phạm này ở địa phương.

Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng vai trò của từng bị cáo trong vụ án, cũng như các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình là: các bị cáo Phan Tấn N, Phan Tấn V, Lê Trần Gia B thực hiện hành vi phạm tội đều dưới 18 tuổi, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo B có cha ruột, ông bà là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, 102 Bộ luật hình sự và Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên để từ đó xử phạt Phan Tấn N 05 năm 09 tháng tù, Lê Trần Gia B 05 năm tù, Phan Tấn V 01 năm 06 tháng tù là phù hợp.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo của bà L, ông T1.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà L, ông T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 54; Điều 57; khoản 1 Điều 10; Điều 101; Điều 102 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

1. Xử phạt bị cáo Phan Tấn N 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54 Điều 57; khoản 1 Điều 101; Điều 102 Bộ Luật hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

2. Xử phạt bị cáo Lê Trần Gia B 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời giam tạm giam từ ngày 25/02/2025 đến ngày 27/6/2025.

3. Xử phạt bị cáo Phan Tấn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.”

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

4. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Ngọc L, ông Phan Thanh T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngay tuyên án.

Cỡ chữ