- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị N - Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHẬN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29-01-2026 V/v: “Tranh chấp yêu cầu ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Tuấn Hải;
2. Ông Danh Quí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Ông Danh Vũ Hải - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang (cơ sở 2), đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 252/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 390/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị N - sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp F, xã V, tỉnh A.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn T - sinh năm 1982 (vắng mặt).
Đia chỉ: Ấp F, xã V, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/10/2025 của nguyên đơn chị Thị N trình bày: Tôi và anh Trần Văn T có tìm hiểu nhau trước được 01 năm nên đến năm 2002 chúng tôi tự nguyện sống chung như vợ chồng, không có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K (cũ) vào ngày 13/12/2006.
Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến 2022 năm thì vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng tôi không lo làm ăn mà còn đánh đập, hành hạ thể sát lẫn tinh thần nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Trần Văn T.
- Về con chung: Tôi xác định tôi và anh Trần Văn T có 01 người con chung tên Trần Văn T1 - sinh ngày 19/11/2004, hiện nay con đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định tôi và anh Trần Văn T không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Trần Văn T.
Về con chung: Tôi xác định có 01 người con chung tên Trần Văn T1 - sinh ngày 19/11/2004, hiện nay con đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không có yêu cầu thêm gì.
Đối với anh Trần Văn T trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T nhiều lần nhưng anh vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn bị đơn đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do là không tuân thủ quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung: Chị Thị N xác định chị và anh Trần Văn T có 01 người con chung tên Trần Văn T1 - sinh ngày 19/11/2004, hiện nay con đã trưởng thành và tự tạo lập được cuộc sống và chị N không yêu cầu Tòa án xem xét nên Miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Thị N và anh Trần Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Thị N là nguyên đơn và anh Trần Văn T là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị N có đơn xin xét xử vắng mặt còn anh T được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi ông có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N và anh T là phù hợp.
Về hôn nhân: Chị Thị N và anh Trần Văn T kết hôn với nhau vào năm 2002, hôn nhân tự nguyện, không có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang (cũ) vào ngày 13/12/2006 cho nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị Thị N và anh Trần Văn T là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau trước nhưng chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau, vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộ ra những cá tính không phù hợp. Chị Na D cho rằng do anh T không lo làm ăn mà còn đánh đập, hành hạ thể sát lẫn tinh thần nên anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Do đó, ngày 21/11/2025 và ngày 10/12/2025 Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh T không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh T. Tuy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị N đã tỏ rõ thái độ không còn tình cảm và yêu thương anh T nữa nên chị cương quyết xin ly hôn với anh. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Na .
Đối với anh Trần Văn T, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà anh T tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh. Từ đó, cho thấy anh T đã biết được nội dung yêu cầu xin ly hôn của chị N. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt anh Trần Văn T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Thị N xác định chị và anh Trần Văn T có 01 người con chung tên Trần Văn T1 - sinh ngày 19/11/2004, hiện nay con đã tưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị N xác định chị và anh Trần Văn T không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Thị N phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004389, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, chị Thị N đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 55 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Chị Thị N xác định chị và anh Trần Văn T có 01 người con chung tên Trần Văn T1 - sinh ngày 19/11/2004, hiện nay con đã tưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Thị N phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004389, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, chị Thị N đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 29/01/2026.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND khu vực 5; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã Gò Quao; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Thanh |