vanban.org

Bản án 43/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 43/2026/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 02 năm 2026
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân; ông Nguyễn Thiện Hoàn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Huỳnh N, sinh năm 2003; CCCD số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trương Hữu K, sinh năm 2000; CCCD số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, tỉnh An Giang.

(Bà N có mặt, ông K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà N trình bày: Bà ông K tự tìm hiểu và được gia đình hai tổ chức lễ cưới vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 17/4/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K nghiện ma túy không phụ giúp gia đình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau về kinh tế gia đình. Bà và ông K đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên cũng không có hàn gắn để bà và ông K về chung sống lại với nhau. Nay, bà yêu cầu ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung tên Trương Võ Huỳnh T, sinh ngày 07/7/2024, hiện con chung đang cùng với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông K theo quy định Nng ông K vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà N và ông K để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Theo Biên bản xác minh của Công an xã P ngày 25/12/2025 xác định ông Trường Hữu K vẫn còn đăng ký thường trú tại địa chỉ ấp Phú Thành, xã P, tỉnh An Giang.

Theo nội dung biên bản xác minh người làm chứng ngày 05/12/2025: Trong thời gian bà N và ông K sống chung, ông K nghiện ma túy và bà N đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2024 cho đến nay, trong thời gian bà N về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì ông K không có đến thăm nom hay có thiện chí hàn gắn để hai người về chung sống lại với nhau.

Tại phiên tòa, bà N có mặt và giữ nguyên ý kiến trình bày, ông K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai Nng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông K theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Võ Thị Huỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Hữu K. Đồng thời, ông K cư trú trên địa bàn xã P, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Võ Thị Huỳnh N và ông Trương Hữu K kết hôn, chung sống với nhau từ năm 2023, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66 ngày 17/4/2023 là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Xét yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn với ông K, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian mâu thuẫn giữa bà N và ông K đã lâu, trong thời gian sống ly thân bà N và ông K không có giải pháp hàn gắn, bỏ mặt tình cảm vợ chồng, gia đình hai bên không có thiện chí hàn gắn để bà N và ông K về chung sống lại với nhau cho thấy mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N về việc ly hôn với ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

[3] Về con chung: Bà N và ông K có 01 con chung tên Trương Võ Huỳnh T, sinh ngày 07/7/2024. Cong chung do bà đang nuôi dạy. Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh T. Xét thấy, từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, cháu Huỳnh T sống cùng với bà N, được bà N chăm sóc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cháu Huỳnh T cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà N. không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Trương Hữu K không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Huỳnh N.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Huỳnh N được ly hôn với ông Trương Hữu K.

Về con chung: Bà Võ Thị Huỳnh N được tiếp tục nuôi dạy 01 con chung Trương Võ Huỳnh T, sinh ngày 07/7/2024. Công nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Võ Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005787 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (bà N đã nộp đủ).

Về quyền kháng cáo: Bà N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/02/2026). Ông K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ