vanban.org

Bản án 43/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Cẩm Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Cẩm Y - Nguyễn Thành T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2026/HNGĐ-ST.
Ngày 23 - 01 – 2026.
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Diệu Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Kim Ngọc.

Bà Lý Thị Thu Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Chúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11- Cần Thơ.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Cẩm Y, sinh năm 1999. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp An Bình, xã Gò Quao, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp 8, xã Vĩnh Tường, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/9/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y trình bày: Vào năm 2024, bà và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (cũ). Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến tháng 02/2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, không thể hòa hợp, thường xuyên xảy ra cự cãi nên tình cảm vợ chồng không còn. Từ giữa tháng 03/2025, bà Yên về nhà cha mẹ ruột tại ấp An Bình, xã Gò Quao, tỉnh An Giang sinh sống cho đến nay. Nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hữu Ng (Giới tính: Nam), sinh ngày 18/4/2025, đang được bà Thạch Cẩm Y nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày: Ông thống nhất thời gian kết hôn, con chung, nợ chung như bà Thạch Cẩm Y trình bày. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung. Ông Nguyễn Thanh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Cẩm Y.

Về con chung: Không đồng ý giao con chung cho bà Thạch Cẩm Y nuôi dưỡng, do bà Y không đủ điều kiện và thời gian chăm sóc con. Ông yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 10 (mười) chỉ vàng 24k loại 9999 trong ngày cưới được cha mẹ tặng cho. Sau ngày cưới, vợ chồng có mang 05 (năm) chỉ cầm tại tiệm vàng với số tiền 20.000.000 đồng, số vàng còn lại bà Y giữ. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y cho rằng đã bán hết, chi xài cho việc sinh con nên ông T xin rút yêu cầu chia tài sản chung, không tiếp tục yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn, nuôi con; không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đồng ý yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Thạch Cẩm Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y khởi kiện về ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Thanh T có nơi cư trú tại ấp 8, xã Vĩnh Tường, thành phố Cần Thơ. Tòa xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y và cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2024, bà Thạch Cẩm Y và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang theo giấy đăng ký kết hôn số 07, ngày 21/01/2025 nên quan hệ hôn nhân của bà Y và ông T được pháp luật thừa nhận là vợ chồng hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho đương sự hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà Y và ông T đều cho rằng hôn nhân không còn hạnh phúc, chứng tỏ tình cảm vợ chồng của bà Y và ông T đã thực sự trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Cẩm Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu Ng (giới tính: Nam), sinh ngày 18/4/2025; bà Thạch Cẩm Y nuôi dưỡng từ lúc vợ chồng ly thân cho đến nay nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Tại phiên tòa, ông T đồng ý giao con chung cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Hữu Ng cho bà Thạch Cẩm Y tiếp tục nuôi dưỡng, ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bà Y chưa yêu cầu trong cùng vụ án. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Thành T có yêu cầu phản tố chia số vàng cưới, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh T rút toàn bộ yêu cầu phản tố đối với bà Thạch Cẩm Y. Đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của ông Nguyễn Thanh T.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc nguyên đơn có trách nhiệm nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Các Điều 9, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Cẩm Y

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Cẩm Y được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

2/ Về con chung: Bà Thạch Cẩm Y được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu Ng (Giới tính: Nam), sinh ngày 18/4/2025. Ông Nguyễn Thanh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thanh T về chia tài sản chung đối với bà Thạch Cẩm Y.

4/ Về nợ chung: Không có.

5/ Về án phí:

+ Buộc bà Thạch Cẩm Y nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Thạch Cẩm Y đã nộp theo biên lai thu số 0005903, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.

+ Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), đã nộp theo biên lai thu số 0011244, ngày 01/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

6/ Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 23/01/2026.

7/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ